Thuốc phòng, chữa các rối loạn do rượu
Thông thường, ta hay chú ý đến các thuốc cai rượu mà ít chú ý đến việc chữa các rối loạn do rượu gây ra. Bởi vậy khi xuất hiện các rối loạn này thường nặng và dẫn đến nhiều hệ lụy khác.
Mức độ uống và rối loạn
Cần đề phòng các rối loạn do rượu gây ra. |
Theo quy ước 1 đơn vị tương đương với 8g cồn (1cốc nhỏ rượu mạnh và bằng khoảng 30ml rượu cuốc lủi). Theo khuyến cáo, nam chỉ nên uống mỗi tuần dưới 21 đơn vị (mỗi ngày dưới 3 cốc rượu mạnh). Nữ mỗi tuần dưới 14 đơn vị (mỗi ngày dưới 2 cốc rượu mạnh). Trong thực tế có những người uống trên mức khuyến cáo nhưng chưa có rối loạn do rượu. Khi uống gấp nhiều lần mức khuyến cáo: mỗi ngày nam có thể uống tới 8 cốc, nữ tới 6 cốc nhỏ rượu mạnh, đây là mức nguy hiểm. Đã có các rối loạn do rượu cấp (viêm tụy) hay mạn (tổn thương não) nhưng người bệnh không nghĩ đến, không điều trị. Khi nghiện rượu, là người uống đã uống bằng hay cao hơn mức nguy hiểm trên và kéo dài. Biểu hiện, có hội chứng cai sinh lý (run tay, vã mồ hôi, lo lắng, nôn ói, bứt rứt, mất ngủ, bỏ bê các công việc khác).
Thuốc điều trị rối loạn do rượu
- Phòng chữa rối loạn tâm thần kinh
Bệnh não Wernicke là biến chứng tâm thần kinh thường gặp ở người nghiện với các biểu hiện: lú lẫn, thất điều, liệt vận nhãn. Ban đầu bệnh có thể hồi phục, song nếu không được chẩn đoán, điều trị có thể gây hư tổn não vĩnh viễn (loạn thần Korsakoft) với đặc điểm mất trí nhớ ngắn hạn nặng nề và suy giảm chức năng đi kèm, cần phải chăm sóc lâu dài.
Tại cộng đồng, nếu người bệnh khỏe, không có biến chứng do nghiện rượu có thể dùng vitamin B1 uống với liều tối thiểu mỗi ngày 300mg. Do dạng uống có độ hấp thu kém với người nghiện, nên thường dùng dạng tiêm bắp.
Tại bệnh viện, dự phòng bằng cách tiêm bắp hay tiêm tĩnh mạch mỗi ngày một lần 250mg vitamin B1, mỗi đợt kéo dài 3-5 ngày. Khi có một trong những triệu chứng sau: thất điều, hạ thân nhiệt, hạ huyết áp, lú lẫn, liệt vận nhãn hay rung giật nhãn cầu, rối loạn trí nhớ, ói mửa, hôn mê, mất tri giác... cần nghi ngờ tới bệnh não Wernicke. Cần dùng vitamin B1 tiêm tĩnh mạch ít nhất mỗi lần 500mg, ngày 3 lần. Nếu người bệnh không đáp ứng thì ngừng điều trị. Nhưng nếu có đáp ứng (tức có bệnh não Wernicke), tiếp tục mỗi ngày một lần tiêm tĩnh mạch vitamin B1 250mg trong 5 ngày liền hoặc kéo dài thêm, nếu triệu chứng bệnh được cải thiện.
Dùng tiêm tốt hơn uống, nhưng tiêm đặc biệt là tiêm tĩnh mạch vitamin B1 dễ gây sock phản vệ. Chỉ tiêm tĩnh mạch ở bệnh viện và chuẩn bị sẵn thuốc chống sock.
Các thuốc phòng, chữa “hội chứng cai”
Khi cai (bỏ) rượu thường bị “hội chứng cai” như sảng rượu cấp, co giật, động kinh. Cần phòng chống các hội chứng này.
+ Nếu chỉ nghiện nhẹ: Chỉ cần khuyên bỏ rượu, không dùng thuốc hay dùng thuốc benzodiazepam với liều nhỏ (như dùng seduxen mỗi lần 5 mg, mỗi ngày 2 lần).
+ Nếu nghiện trung bình: Có thể cai tại nhà. Thường dùng chlordiazepoxid, theo cách giảm liều dần trong 5 ngày.
+ Nếu nghiện nặng: Phải điều trị nội trú. Dùng liều chlordiazepoxid cao hơn, theo dõi cẩn thận hơn. Cần đo nồng độ cồn qua hơi thở. Chỉ dùng thuốc khi có hội chứng cai rượu rõ ràng. Nếu có nguy cơ co giật cao, sảng rượu cấp, có thể điều trị tối đa tới 2 tuần. Cần chú ý, chlordiazepoxid gây tích lũy do đó khi bị kèm bệnh gan nên dùng một thuốc có thời gian bán hủy ngắn hơn để tránh tích lũy như có thể dùng oxazepam.
Các thuốc dùng cai rượu.
Chỉ dùng hỗ trợ khi nghiện rượu nặng hoặc tái phát sau khi đã cai rượu:
+ Disulfiram: Disulfiram chỉ cho rượu chuyển thành chất trung gian độc (acetaldehyt) rồi ngừng, mà không chuyển tiếp thành nước, khí carbonic. Chất trung gian gây khó chịu, nôn, làm người nghiện sợ không dám uống rượu. Đây là cách “lấy độc trị độc”. Không dùng disulfiram cho người có bệnh tim mạch, tăng huyết áp, suy thận, xơ gan, đái tháo đường, suy tuyến giáp, động kinh, có thai. Không dùng disulfiram liều cao, khi dùng không được uống thêm rượu, vì dùng nhiều disulfiram hay đang dùng mà uống rượu thì chất trung gian tăng cao làm tim đập nhanh, mặt bừng đỏ, nôn, đổ mồ hôi, nhức dầu dữ dội, nếu nặng có thể tử vong.
Natrelxon: là thuốc cai nghiện ma túy, nhưng có thể dùng cai rượu. Dùng dạng uống, người nghiện khó tuân thủ. Hiện đang nghiên cứu dạng tác dụng kéo dài. Ở nước ta chưa có dạng này. Khi uống để cai nghiện rượu, có thể bị nôn, buồn nôn, đau bụng tiêu chảy, đau xương khớp, trầm cảm. Người suy gan, người đang dùng thuốc phiện (chẳng hạn như dùng trị tiêu chảy, giảm đau) thì không dùng được.
+ Acamprosat calcium: Khi nghiện rượu, hệ thống dẫn truyền thần kinh (gồm các chất GABA và glutamat) bị ức chế, mất cân bằng. Trên súc vật, acamprosat calcium lập lại sự kích thích và cân bằng này. Suy luận ra, trên người, thuốc làm giảm sự thèm rượu tương tự. Ngoài ra, thuốc cũng không bị chuyển hóa ở gan nên với người suy gan vẫn dùng được mà không cần giảm liều nhưng không dùng được cho người suy thận.
Cần lưu ý phòng chống các rối loạn do rượu. Chỉ nên dùng thuốc cai khi cần theo chỉ định của thầy thuốc và lưu ý thuốc cai rượu cũng chỉ có tính chất hỗ trợ.
(Theo DS. Bùi Văn Uy // Báo Sức khỏe và Đời sống)
- Cách dùng viên nifedipin chữa tăng huyết ápNifedipin là thuốc chẹn kênh canxi thuộc nhóm dihydropyridin có tác dụng chống tăng huyết áp (do làm giảm sức căng ở cơ trơn các tiểu động mạch, dẫn đến làm giảm sức cản ngoại vi và làm giảm huyết áp). Với loại viên 10mg là loại thuốc có tác dụng ngắn vì thế phải dùng nhiều lần trong ngày (thường là 3 viên/ngày chia 3 lần)
- Dùng thuốc khi đau xương khớpKhi xảy ra cơn đau cấp tính ở một vùng cơ xương nào đó, việc đầu tiên người bệnh nên làm là nghỉ ngơi, tránh giác hút, châm nặn máu ở các huyệt. Một số thuốc giảm đau có thể sử dụng ngay trong một hai ngày đầu là:
- Ngộ độc methanolMethanol là một loại rượu có độc tính cao, thường gặp trong chất dung môi dùng lau kính xe, chất chống đóng băng cho ống dẫn xăng dầu, dung dịch mực in cho máy photocopy, nhiên liệu cho các bếp lò nhỏ, dùng pha sơn và như một chất dung môi công nghiệp. Hiện nay có thêm những ứng dụng mới cho methanol, nhất là việc đề nghị sử dụng nó như một nguồn năng lượng thay thế.
- Thuốc lợi niệu: Không chỉ chữa triệu chứngCó rất nhiều lý do gây nên bí tiểu tiện và phù như suy tim, xơ gan, xơ gan cổ trướng, phù phổi cấp, nhiễm độc thai nghén... Nhiều người cho rằng các loại thuốc lợi niệu chỉ chữa triệu chứng nên tự ý mua dùng. Thực tế trong các bệnh này thuốc lợi niệu đôi khi lại là một trong các thuốc chữa bệnh chính nên việc dùng không hề đơn giản.
- Thuốc điều trị thiếu máu trong suy thận mạnThiếu máu là một triệu chứng quan trọng trong biểu hiện mức độ suy thận. Suy thận càng nặng thì thiếu máu càng nhiều. Điều trị thiếu máu là một trong các biện pháp tổng hợp điều trị bảo tồn suy thận mạn.
- Thuốc mới đặc trị bệnh lây qua đường tình dụcCó khá nhiều bệnh lây truyền qua đường tình dục. Dưới đây là một số bệnh thường gặp:
- Loãng xương - Dùng thuốc thế nào cho an toànLoãng xương là một bệnh xương hay gặp, đặc biệt ở những người cao tuổi và phụ nữ sau mãn kinh. Loãng xương là một vấn đề lớn trong sức khỏe cộng đồng do bệnh thường gặp và chi phí điều trị rất tốn kém. Ở Pháp có tới 4-5 triệu phụ nữ và 1,4 triệu nam giới bị loãng xương, trong đó 10% bị tàn phế và chi phí điều trị lên tới 1,35 tỷ frans. Ở Việt Nam, loãng xương chiếm tỷ lệ 13-15% phụ nữ sau mãn kinh.
- Điều trị viêm xương tủy nhiễm khuẩnViêm xương tủy nhiễm khuẩn (VXTNK) hay cốt tủy viêm, là tình trạng nhiễm trùng của xương, thường là của vỏ hoặc tủy xương, do vi khuẩn sinh mủ không đặc hiệu gây nên.
- Thiểu năng tuần hoàn não, chữa bằng thuốc gì?Tôi 53 tuổi, thường bị nhức đầu, chóng mặt, thỉnh thoảng có cảm giác mất thăng bằng và bị lảo đảo. Có lúc tự nhiên tôi bị ù tai; mắt nhìn mờ, nhất là lúc đang nằm đột ngột ngồi dậy. Xin cho biết tôi bị làm sao và có thuốc gì để chữa?
- Những lưu ý khi dùng thuốc chữa tiêu chảyBệnh tiêu chảy xảy ra khá phổ biến hiện nay. Việc điều trị thường tùy tiện không có sự hướng dẫn của thầy thuốc nên dễ dẫn đến tai biến. Mặt khác lại có nhiều loại thuốc chữa tiêu chảy không cần đơn của thầy thuốc, người bệnh hoặc gia đình tự mua về để trị bệnh, kể cả người bán cũng không quan tâm đến tác dụng phụ có hại của thuốc, cũng như mặt hạn chế của nó trong điều trị tiêu chảy.
- Dùng corticosteroid trong điều trị bệnh khớpTrong lâm sàng người ta sử dụng các thuốc glucocorticosteroid tổng hợp có hoạt tính chống viêm và chứa nhân steroid có 17 phân tử carbon với ưu điểm có tác dụng chống viêm mạnh và ít tác dụng phụ.
- Dùng thuốc gì cho da mùa hanh hao? Khi những cơn gió se se lạnh thổi là lúc báo hiệu thời tiết khô hanh đã tràn về và sự mất nước qua da cũng sẽ tăng lên. Những người có làn da bình thường có thể bị khô da, những người có yếu tố cơ địa thì làn da lại càng trở nên khô hơn. Vậy cần phải làm gì khi đó nhỉ?
- Thuốc trị viêm tai - Coi chừng điếc Viêm tai giữa có hai loại chính là viêm tai giữa cấp và viêm tai giữa mạn tính. Trong bệnh viêm tai giữa cấp tính, việc điều trị tùy thuộc vào giai đoạn của bệnh.
- Thuốc điều trị viêm đường tiết niệuTôi năm nay 60 tuổi, gần đây tôi hay bị đi tiểu rắt. Có khi chỉ khoảng 30 phút tôi lại mót đi tiểu một lần, nhưng mỗi lần đi chỉ được một ít và rất buốt, đôi lúc người cảm thấy ngây ngấy sốt. Tôi rất ngại đi khám bệnh, vậy xin quý báo cho biết tôi làm bị sao và có thuốc gì để chữa
- Lưu ý khi dùng thuốc lợi tiểuThuốc lợi tiểu là những thuốc có tác dụng làm tăng sự đào thải muối và nước ở thận, do đó làm cho ta đi tiểu nhiều hơn.
- Ảnh hưởng của thuốc lên sự tiết sữaProlactin là hormon có vai trò gây tiết sữa. Khi prolactin tiết ra ít (dưới 100 nanogam/lit) thì việc tiết sữa kém. Trong trường hợp ít sữa do prolactin thì dùng các thuốc ức chế thụ thể dopamin làm tăng tiết prolactin dẫn tới tăng tiết sữa.
- Các dạng bào chế có chứa testosteronTestosteron (T) là một nội tiết tố sinh dục nam. Hiện nay, T sử dụng là T tổng hợp, qua thực nghiệm, các nhà khoa học nhận thấy các este của T có hoạt tính mạnh hơn T tự do, cho nên các sản phẩm chứa T, dùng trong y học hiện nay, đều là các este như T: propionat, acetat, undecanoat, enanthat...
- Thuốc điều trị đợt tái phát viêm nhiều khớpViêm khớp dạng thấp (VKDT) là một bệnh khớp tiến triển kéo dài, đánh dấu bởi các đợt tái phát viêm nhiều khớp. Bệnh nhân thường sưng đau nhiều khớp, gây đau đớn làm mất tạm thời khả năng sinh hoạt hàng ngày và lao động.

