Lưu ý khi dùng thuốc lợi tiểu
Thuốc lợi tiểu là những thuốc có tác dụng làm tăng sự đào thải muối và nước ở thận, do đó làm cho ta đi tiểu nhiều hơn.
![]() Không nên tự ý ngưng thuốc nửa chừng khi chưa tham khảo ý kiến thầy thuốc. |
Thuốc lợi tiểu thường được chỉ định trong các trường hợp sau:
Bị bệnh tăng huyết áp: Thuốc làm tăng đào thải nước tiểu, làm giảm khối lượng nước trong cơ thể nên gián tiếp làm hạ huyết áp. Trong một số trường hợp tăng huyết áp, thuốc lợi tiểu có thể dùng duy nhất nhưng thường được kết hợp làm tăng thêm tác dụng của các thuốc hạ huyết áp.
Bị suy tim: Thuốc lợi tiểu gián tiếp làm giảm khối lượng máu lưu hành, làm giảm tiền gánh, tạo điều kiện cho tim vốn đã bị suy yếu hoạt động tốt hơn.
Bị phù: Thuốc lợi tiểu giúp lợi nước bị ứ trong cơ thể do bị bệnh về phổi (phù phổi), gan (xơ gan), thận (hội chứng thận hư)...
Các loại thuốc lợi tiểu
Thuốc lợi tiểu có thể chia thành 3 nhóm chính sau:
Nhóm thuốc lợi tiểu thiazid: Gọi là thiazid vì trong cấu trúc hóa học của các thuốc thuộc nhóm này có nhân thiazid, gồm có các thuốc: clorothiazid, hydroclorothiazid, indapamid, metolazon, clorthalidon... Vị trí tác động của nhóm thuốc này là ở ống uốn xa nằm ở vỏ thận làm tăng bài tiết muối, do đó sẽ làm tăng thải nước tiểu. Đây là nhóm thuốc lợi tiểu được sử dụng ưu tiên trong điều trị tăng huyết áp do hiệu quả hạ áp cao hơn các nhóm lợi tiểu khác. Biến chứng có thể gặp khi dùng nhóm thiazid là hạ kali máu do tăng sự bài tiết kali vào trong nước tiểu.
Nhóm thuốc lợi tiểu tác động ở quai Henlé: Như tên gọi, vị trí tác động của nhóm thuốc là nhánh trên của quai Henlé nằm trên vùng tủy thận. Đây là nhóm thuốc có tác dụng lợi tiểu rất mạnh và làm mất natri nhanh hơn nhóm thiazid nên thích hợp dùng trong trường hợp suy tim và phù nặng. Thuộc loại này gồm có: flurosemid, acid ethacrynic, bumetamid... Nhóm này cũng gây hạ kali máu.
Hai nhóm thuốc trên được gọi là thuốc “bài tiết” kali.
Nhóm thuốc lợi tiểu tiết kiệm kali: Nhóm thuốc này tác động lên đoạn cuối của ống uốn xa, gồm có: spironolacton, triamteren, amilorid... Tác dụng lợi tiểu của nhóm này yếu nhưng do có khả năng giữ kali nên thường được phối hợp với thuốc thuộc nhóm thiazid hoặc lợi tiểu quai Henlé. Một số biệt dược phối hợp: aldatazin = spironolacton + hydroclorothiazid; moduretic = amilorid + hydroclorothiazid... Biến chứng của nhóm thuốc này là đôi khi gây tăng urê máu, sỏi thận (triamteren), chứng to vú ở nam giới (spironolacton).
Ngoài ba nhóm thuốc chính kể trên, còn có một số nhóm lợi tiểu khác thường dùng trong những trường hợp đặc biệt như: nhóm thuốc lợi tiểu thẩm thấu (manitol, glycerin, dùng trong phẫu thuật tim, phẫu thuật thần kinh và phẫu thuật mắt), nhóm thuốc lợi tiểu ức chế men carbonic anhydras (như acetazolamid dùng trị tăng nhãn áp).
Những chú ý khi dùng
Nhất thiết phải có sự chỉ định của bác sĩ mới được dùng thuốc. Có nhiều thuốc lợi tiểu mà việc chọn lựa sẽ tùy theo vào sự chỉ định điều trị, vào nồng độ thải natri mong muốn, vào thời gian tác dụng của thuốc cũng như tác dụng phụ đặc hiệu của mỗi loại thuốc và vào tình trạng chức năng thận của người bệnh. Chỉ có thầy thuốc là người am hiểu cơ chế tác động của từng nhóm thuốc mới chọn thuốc thích hợp. Trong điều trị tăng huyết áp thường chọn thuốc có tác dụng thải natri vừa phải và kéo dài (như nhóm thiazid). Còn điều trị phù, sự lựa chọn thuốc sẽ tùy thuộc vào mức độ cần thải muối. Muốn có tác dụng nhanh, đặc biệt trong phù phổi các nhà điều trị thường dùng thuốc có tác động ở quai Henlé uống và cả tiêm tĩnh mạch. Trong suy thận, người ta chỉ có thể dùng thuốc tác động ở quai chứ không dùng các nhóm thuốc khác.
Trong điều trị, người bệnh cần tuyệt đối tuân thủ theo đúng liệu trình dùng thuốc do bác sĩ chỉ định, không được tự ý ngưng bỏ thuốc nửa chừng dù cảm thấy khỏe hơn. Có người cho rằng dùng thuốc lợi tiểu đi tiểu nhiều là “thoát dương”, yếu thận và liệt dương nên đã không tuân thủ điều trị. Điều này không nên, chỉ có spironolacton dùng liều cao và lâu ngày có thể gây tình trạng “yếu sinh lý” nhưng ngưng thuốc sẽ hồi phục. Vì vậy, người bệnh nên báo cho thầy thuốc biết tác dụng ngoại ý để thầy thuốc xử trí bằng cách thay thuốc khác chứ không nên tự ý bỏ thuốc.
Khi bác sĩ chỉ định kết hợp thuốc lợi tiểu “bài tiết” kali và thuốc lợi tiểu “tiết kiệm” kali vẫn phải theo dõi tình trạng kali máu của người bệnh vì cân bằng của cơ thể vẫn có thể nghiêng về hoặc tăng hoặc giảm kali quá mức.
Trong cơ thể, chất điện giải natri và kali đồng hành khăng khít với nhau. Các thuốc lợi tiểu thông dụng (nhóm thiazid và tác động ở quai Henlé) có tác dụng thả natri đồng thời làm mất kali. Kali đóng vai trò rất quan trọng trong co bóp tim và duy trì thể trạng tốt. Vì vậy người dùng thuốc lợi tiểu nên ăn nhiều chuối, uống nhiều nước cam để được bổ sung kali. Hoặc dùng thuốc lợi tiểu mà lại có triệu chứng vọp bẻ, yếu cơ, mệt mỏi, buồn, khát nhiều, bất an, mạch nhanh phải đến bác sĩ khám ngay. Bác sĩ sẽ có cách xử lý phù hợp như cho dùng thêm thuốc bù kali để giải quyết tình trạng mất kali do dùng thuốc lợi tiểu.
(Theo PGS.TS. Nguyễn Hữu Đức // Báo Sức khỏe và Đời sống)
- Cách dùng viên nifedipin chữa tăng huyết ápNifedipin là thuốc chẹn kênh canxi thuộc nhóm dihydropyridin có tác dụng chống tăng huyết áp (do làm giảm sức căng ở cơ trơn các tiểu động mạch, dẫn đến làm giảm sức cản ngoại vi và làm giảm huyết áp). Với loại viên 10mg là loại thuốc có tác dụng ngắn vì thế phải dùng nhiều lần trong ngày (thường là 3 viên/ngày chia 3 lần)
- Dùng thuốc khi đau xương khớpKhi xảy ra cơn đau cấp tính ở một vùng cơ xương nào đó, việc đầu tiên người bệnh nên làm là nghỉ ngơi, tránh giác hút, châm nặn máu ở các huyệt. Một số thuốc giảm đau có thể sử dụng ngay trong một hai ngày đầu là:
- Ngộ độc methanolMethanol là một loại rượu có độc tính cao, thường gặp trong chất dung môi dùng lau kính xe, chất chống đóng băng cho ống dẫn xăng dầu, dung dịch mực in cho máy photocopy, nhiên liệu cho các bếp lò nhỏ, dùng pha sơn và như một chất dung môi công nghiệp. Hiện nay có thêm những ứng dụng mới cho methanol, nhất là việc đề nghị sử dụng nó như một nguồn năng lượng thay thế.
- Thuốc lợi niệu: Không chỉ chữa triệu chứngCó rất nhiều lý do gây nên bí tiểu tiện và phù như suy tim, xơ gan, xơ gan cổ trướng, phù phổi cấp, nhiễm độc thai nghén... Nhiều người cho rằng các loại thuốc lợi niệu chỉ chữa triệu chứng nên tự ý mua dùng. Thực tế trong các bệnh này thuốc lợi niệu đôi khi lại là một trong các thuốc chữa bệnh chính nên việc dùng không hề đơn giản.
- Thuốc điều trị thiếu máu trong suy thận mạnThiếu máu là một triệu chứng quan trọng trong biểu hiện mức độ suy thận. Suy thận càng nặng thì thiếu máu càng nhiều. Điều trị thiếu máu là một trong các biện pháp tổng hợp điều trị bảo tồn suy thận mạn.
- Thuốc mới đặc trị bệnh lây qua đường tình dụcCó khá nhiều bệnh lây truyền qua đường tình dục. Dưới đây là một số bệnh thường gặp:
- Loãng xương - Dùng thuốc thế nào cho an toànLoãng xương là một bệnh xương hay gặp, đặc biệt ở những người cao tuổi và phụ nữ sau mãn kinh. Loãng xương là một vấn đề lớn trong sức khỏe cộng đồng do bệnh thường gặp và chi phí điều trị rất tốn kém. Ở Pháp có tới 4-5 triệu phụ nữ và 1,4 triệu nam giới bị loãng xương, trong đó 10% bị tàn phế và chi phí điều trị lên tới 1,35 tỷ frans. Ở Việt Nam, loãng xương chiếm tỷ lệ 13-15% phụ nữ sau mãn kinh.
- Điều trị viêm xương tủy nhiễm khuẩnViêm xương tủy nhiễm khuẩn (VXTNK) hay cốt tủy viêm, là tình trạng nhiễm trùng của xương, thường là của vỏ hoặc tủy xương, do vi khuẩn sinh mủ không đặc hiệu gây nên.
- Thiểu năng tuần hoàn não, chữa bằng thuốc gì?Tôi 53 tuổi, thường bị nhức đầu, chóng mặt, thỉnh thoảng có cảm giác mất thăng bằng và bị lảo đảo. Có lúc tự nhiên tôi bị ù tai; mắt nhìn mờ, nhất là lúc đang nằm đột ngột ngồi dậy. Xin cho biết tôi bị làm sao và có thuốc gì để chữa?
- Những lưu ý khi dùng thuốc chữa tiêu chảyBệnh tiêu chảy xảy ra khá phổ biến hiện nay. Việc điều trị thường tùy tiện không có sự hướng dẫn của thầy thuốc nên dễ dẫn đến tai biến. Mặt khác lại có nhiều loại thuốc chữa tiêu chảy không cần đơn của thầy thuốc, người bệnh hoặc gia đình tự mua về để trị bệnh, kể cả người bán cũng không quan tâm đến tác dụng phụ có hại của thuốc, cũng như mặt hạn chế của nó trong điều trị tiêu chảy.
- Dùng corticosteroid trong điều trị bệnh khớpTrong lâm sàng người ta sử dụng các thuốc glucocorticosteroid tổng hợp có hoạt tính chống viêm và chứa nhân steroid có 17 phân tử carbon với ưu điểm có tác dụng chống viêm mạnh và ít tác dụng phụ.
- Dùng thuốc gì cho da mùa hanh hao? Khi những cơn gió se se lạnh thổi là lúc báo hiệu thời tiết khô hanh đã tràn về và sự mất nước qua da cũng sẽ tăng lên. Những người có làn da bình thường có thể bị khô da, những người có yếu tố cơ địa thì làn da lại càng trở nên khô hơn. Vậy cần phải làm gì khi đó nhỉ?
- Thuốc trị viêm tai - Coi chừng điếc Viêm tai giữa có hai loại chính là viêm tai giữa cấp và viêm tai giữa mạn tính. Trong bệnh viêm tai giữa cấp tính, việc điều trị tùy thuộc vào giai đoạn của bệnh.
- Thuốc phòng, chữa các rối loạn do rượuThông thường, ta hay chú ý đến các thuốc cai rượu mà ít chú ý đến việc chữa các rối loạn do rượu gây ra. Bởi vậy khi xuất hiện các rối loạn này thường nặng và dẫn đến nhiều hệ lụy khác.
- Thuốc điều trị viêm đường tiết niệuTôi năm nay 60 tuổi, gần đây tôi hay bị đi tiểu rắt. Có khi chỉ khoảng 30 phút tôi lại mót đi tiểu một lần, nhưng mỗi lần đi chỉ được một ít và rất buốt, đôi lúc người cảm thấy ngây ngấy sốt. Tôi rất ngại đi khám bệnh, vậy xin quý báo cho biết tôi làm bị sao và có thuốc gì để chữa
- Ảnh hưởng của thuốc lên sự tiết sữaProlactin là hormon có vai trò gây tiết sữa. Khi prolactin tiết ra ít (dưới 100 nanogam/lit) thì việc tiết sữa kém. Trong trường hợp ít sữa do prolactin thì dùng các thuốc ức chế thụ thể dopamin làm tăng tiết prolactin dẫn tới tăng tiết sữa.
- Các dạng bào chế có chứa testosteronTestosteron (T) là một nội tiết tố sinh dục nam. Hiện nay, T sử dụng là T tổng hợp, qua thực nghiệm, các nhà khoa học nhận thấy các este của T có hoạt tính mạnh hơn T tự do, cho nên các sản phẩm chứa T, dùng trong y học hiện nay, đều là các este như T: propionat, acetat, undecanoat, enanthat...
- Thuốc điều trị đợt tái phát viêm nhiều khớpViêm khớp dạng thấp (VKDT) là một bệnh khớp tiến triển kéo dài, đánh dấu bởi các đợt tái phát viêm nhiều khớp. Bệnh nhân thường sưng đau nhiều khớp, gây đau đớn làm mất tạm thời khả năng sinh hoạt hàng ngày và lao động.


