Thuốc điều trị đợt tái phát viêm nhiều khớp
Viêm khớp dạng thấp (VKDT) là một bệnh khớp tiến triển kéo dài, đánh dấu bởi các đợt tái phát viêm nhiều khớp. Bệnh nhân thường sưng đau nhiều khớp, gây đau đớn làm mất tạm thời khả năng sinh hoạt hàng ngày và lao động.
![]() Chườm nóng hoặc lạnh cũng có tác dụng giảm đau trong VKDT. |
Hiện nay tỷ lệ VKDT nặng đã giảm đi nhờ các có các biện pháp điều trị tích cực. Điều trị trong giai đoạn này có mục tiêu chống viêm, giảm đau, phục hồi khả năng vận động của khớp. Đầu tiên là dùng các thuốc giảm đau. Các thuốc này có thể tác dụng lên vị trí đau ở ngoại vi tức là lên các đầu mút thần kinh tại khớp, hay có tác dụng trung ương, lên não bộ. Các thuốc giảm đau hay dùng là paracetamol, efferalgan codein. Cũng có thể dùng aspirin. Aspirin có 3 tác dụng chính. Với liều nhỏ (ít hơn 250 mg/ngày), thuốc có tác dụng chống đông máu, với liều trung bình (từ 500-2000 mg/ngày) thuốc có tác dụng giảm đau. Với liều cao (hơn 2000 mg/ngày) có tác dụng chống viêm. Dù với bất kỳ liều dùng nào thì aspirin cũng không phải là thuốc vô hại, vì thuốc gây tổn thương dạ dày. Ngoài ra có cả các thuốc mới được dùng như tramadol, topalgic. Thuốc giảm đau chứa morphin chỉ được sử dụng rất hãn hữu trong VKDT. Có thể dùng thuốc giảm đau liên tục, còn sau này chỉ cần dùng thuốc khi đau. Trong trường hợp chờ đợi bác sĩ khi bị đau khớp, cần để cho khớp đau được nghỉ ngơi, chườm lạnh khớp và dùng thuốc giảm đau đơn thuần như paracetamol. Thứ hai là dùng thuốc chống viêm chứa corticoid và không chứa steroid (CVKS).
Có rất nhiều thuốc chống viêm không steroid hiện nay có mặt trên thị trường với các dạng bào chế khác nhau như thuốc tiêm bắp, viên, viên nang, gel hay crem bôi ngoài da như felden, voltaren. Tuy nhiên do chúng có tác dụng phụ nguy hiểm lên dạ dày như gây loét dạ dày nên tuyệt đối không kết hợp các thuốc CVKS với nhau và với aspirin, không bao giờ được dùng vượt quá liều cho phép. Thuốc cũng tăng độc tính khi bệnh nhân đồng thời uống rượu hay hút thuốc lá. Một yếu tố nguy cơ khác là stress, ví dụ khi bệnh nhân phải phẫu thuật chẳng hạn. Ở một số bệnh nhân yếu như người cao tuổi, tiền sử loét dạ dày tá tràng, cần phải bổ sung thêm một số thuốc bảo vệ niêm mạc dạ dày. Hiện nay có một số thuốc có tác dụng chọn lọc giảm đau chống viêm nhưng ít có tác dụng phụ lên dạ dày như celebrex là một giải pháp điều trị rất tốt trong những trường hợp này. Ngoài ra cần chú ý phát hiện một số tác dụng phụ của thuốc như tăng huyết áp, hen phế quản, dị ứng thuốc (nổi ban ngoài da).
Đối với mỗi thuốc cần chú ý đến thời điểm thuốc bắt đầu có tác dụng và thời gian tác dụng của thuốc kéo dài trong bao lâu. Có thể chọn loại thuốc dùng nhiều lần trong ngày nếu thời gian tác dụng ngắn (từ 4-8 giờ) hay thuốc dùng một lần trong ngày vì có tác dụng kéo dài trong 24 giờ.
Thuốc chống viêm chứa corticoid cũng thường hay được dùng cho các bệnh nhân rất đau và viêm nhiều khớp. Chỉ xét đến tăng liều corticoid khi đã làm tất cả các biện pháp khác như điều trị không dùng thuốc, nghỉ ngơi, dùng thuốc giảm đau. Khi dùng, có thể áp dụng các biện pháp sau: hoặc tăng liều thuốc đường uống, hoặc tiêm truyền đường tĩnh mạch, hoặc tiêm khớp. Một biện pháp điều trị có hiệu quả nữa là hút dịch và tiêm khớp bằng thuốc chứa corticoid như depomedrol, diprospan. Thuốc có thể làm giảm đau tại khu vực viêm, có tác dụng chống viêm tại chỗ, dừng lại tiến triển của bệnh và làm chậm quá trình tăng sinh bệnh lý của tế bào màng hoạt dịch khớp. Ngoài các biện pháp dùng thuốc, còn có thể làm giảm đau bằng lạnh hay nóng. Áp nóng hay lạnh tuỳ theo tình trạng viêm khớp là các biện pháp ít tốn kém, không nguy hiểm và dễ làm. Áp lạnh lên trên khớp nóng (tức là đang rất viêm) có thể làm giảm đau. Áp nóng lên khớp đang đau nhưng ít viêm có thể làm giảm đau khớp mạn tính, còn tồn tại sau đợt viêm tiến triển.
Để áp lạnh, đơn giản nhất là dùng túi chườm đá. Có thể dùng miếng đắp nhiệt, giải phóng lạnh hay nóng khi làm lạnh hay làm nóng trước khi sử dụng. Đó là các túi chứa chất gelatin có thể hấp thu nóng hay lạnh trong khoảng 10 phút và sau đó giải phóng vào trong khớp đau trong khoảng 1 giờ. Có thể đặt túi trong tủ lạnh hay trong chảo nước nóng. Có thể tắm bồn nước ấm vào buổi sáng để giảm cứng khớp buổi sáng và giảm đau vào cuối ngày. Ngâm nước nóng, ngâm bùn, áp paraffin, dụng cụ điện, siêu âm có thể làm ấm mô và giảm đau. Tuy nhiên không nên sử dụng dụng cụ điện hay siêu âm vì mất nhiều thời gian và tác dụng ít. Để giảm đau không dùng thuốc, bệnh nhân VKDT còn cần trợ giúp kỹ thuật. Đó là các dụng cụ giúp bệnh nhân trong các sinh hoạt hàng ngày như vệ sinh, mặc quần áo, hoạt động dọn dẹp nhà cửa, và nghề nghiệp, như kéo lò xo, mở nắp chai bằng điện... Người bệnh cần chọn giày mềm, nhẹ hay đôi khi cần đặt riêng giày để dành cho các ngón chân bị biến dạng.
(Theo TS. BS. Nguyễn Vĩnh Ngọc // Báo Sức khỏe và Đời sống)
- Cách dùng viên nifedipin chữa tăng huyết ápNifedipin là thuốc chẹn kênh canxi thuộc nhóm dihydropyridin có tác dụng chống tăng huyết áp (do làm giảm sức căng ở cơ trơn các tiểu động mạch, dẫn đến làm giảm sức cản ngoại vi và làm giảm huyết áp). Với loại viên 10mg là loại thuốc có tác dụng ngắn vì thế phải dùng nhiều lần trong ngày (thường là 3 viên/ngày chia 3 lần)
- Dùng thuốc khi đau xương khớpKhi xảy ra cơn đau cấp tính ở một vùng cơ xương nào đó, việc đầu tiên người bệnh nên làm là nghỉ ngơi, tránh giác hút, châm nặn máu ở các huyệt. Một số thuốc giảm đau có thể sử dụng ngay trong một hai ngày đầu là:
- Ngộ độc methanolMethanol là một loại rượu có độc tính cao, thường gặp trong chất dung môi dùng lau kính xe, chất chống đóng băng cho ống dẫn xăng dầu, dung dịch mực in cho máy photocopy, nhiên liệu cho các bếp lò nhỏ, dùng pha sơn và như một chất dung môi công nghiệp. Hiện nay có thêm những ứng dụng mới cho methanol, nhất là việc đề nghị sử dụng nó như một nguồn năng lượng thay thế.
- Thuốc lợi niệu: Không chỉ chữa triệu chứngCó rất nhiều lý do gây nên bí tiểu tiện và phù như suy tim, xơ gan, xơ gan cổ trướng, phù phổi cấp, nhiễm độc thai nghén... Nhiều người cho rằng các loại thuốc lợi niệu chỉ chữa triệu chứng nên tự ý mua dùng. Thực tế trong các bệnh này thuốc lợi niệu đôi khi lại là một trong các thuốc chữa bệnh chính nên việc dùng không hề đơn giản.
- Thuốc điều trị thiếu máu trong suy thận mạnThiếu máu là một triệu chứng quan trọng trong biểu hiện mức độ suy thận. Suy thận càng nặng thì thiếu máu càng nhiều. Điều trị thiếu máu là một trong các biện pháp tổng hợp điều trị bảo tồn suy thận mạn.
- Thuốc mới đặc trị bệnh lây qua đường tình dụcCó khá nhiều bệnh lây truyền qua đường tình dục. Dưới đây là một số bệnh thường gặp:
- Loãng xương - Dùng thuốc thế nào cho an toànLoãng xương là một bệnh xương hay gặp, đặc biệt ở những người cao tuổi và phụ nữ sau mãn kinh. Loãng xương là một vấn đề lớn trong sức khỏe cộng đồng do bệnh thường gặp và chi phí điều trị rất tốn kém. Ở Pháp có tới 4-5 triệu phụ nữ và 1,4 triệu nam giới bị loãng xương, trong đó 10% bị tàn phế và chi phí điều trị lên tới 1,35 tỷ frans. Ở Việt Nam, loãng xương chiếm tỷ lệ 13-15% phụ nữ sau mãn kinh.
- Điều trị viêm xương tủy nhiễm khuẩnViêm xương tủy nhiễm khuẩn (VXTNK) hay cốt tủy viêm, là tình trạng nhiễm trùng của xương, thường là của vỏ hoặc tủy xương, do vi khuẩn sinh mủ không đặc hiệu gây nên.
- Thiểu năng tuần hoàn não, chữa bằng thuốc gì?Tôi 53 tuổi, thường bị nhức đầu, chóng mặt, thỉnh thoảng có cảm giác mất thăng bằng và bị lảo đảo. Có lúc tự nhiên tôi bị ù tai; mắt nhìn mờ, nhất là lúc đang nằm đột ngột ngồi dậy. Xin cho biết tôi bị làm sao và có thuốc gì để chữa?
- Những lưu ý khi dùng thuốc chữa tiêu chảyBệnh tiêu chảy xảy ra khá phổ biến hiện nay. Việc điều trị thường tùy tiện không có sự hướng dẫn của thầy thuốc nên dễ dẫn đến tai biến. Mặt khác lại có nhiều loại thuốc chữa tiêu chảy không cần đơn của thầy thuốc, người bệnh hoặc gia đình tự mua về để trị bệnh, kể cả người bán cũng không quan tâm đến tác dụng phụ có hại của thuốc, cũng như mặt hạn chế của nó trong điều trị tiêu chảy.
- Các dạng bào chế có chứa testosteronTestosteron (T) là một nội tiết tố sinh dục nam. Hiện nay, T sử dụng là T tổng hợp, qua thực nghiệm, các nhà khoa học nhận thấy các este của T có hoạt tính mạnh hơn T tự do, cho nên các sản phẩm chứa T, dùng trong y học hiện nay, đều là các este như T: propionat, acetat, undecanoat, enanthat...


