Thuốc chữa viêm phổi mắc phải trong cộng đồng
Viêm phổi mắc phải trong cộng đồng (VPCĐ) thường do Steptococcus pneumoniae (chiếm đến 2/3), tiếp đến là Hemophilus influenzae..., khác với viêm phổi mắc phải trong bệnh viện (VPBV) thường do Klebsiela pneumoniae, Pseudomanas aeruginosa...
![]() Hình ảnh viêm phổi trên phim Xquang. |
VPCĐ thường có các triệu chứng: ho, sốt, thở nặng nhọc nhưng những triệu chứng này không phải lúc nào cũng xuất hiện đầy đủ và hoàn toàn đặc hiệu (có thể gặp ở bệnh viêm phế quản cấp và mạn, các bệnh không nhiễm khuẩn khác...). Do vậy, trong thực tế, việc điều trị VPCĐ thường dựa vào dịch tễ và sự kháng thuốc từng vùng, lệ thuộc vào tính nhạy cảm, thói quen, kinh nghiệm thầy thuốc. Khi điều trị không thành công có thể dựa vào các xét nghiệm (đã lấy mẫu trước đó) để điều chỉnh hoặc dùng các kháng sinh dự phòng (đã khuyến cáo). Ở nước ta cũng như các nước phát triển khác đều chấp nhận cách điều trị thực tế này.
Các thuốc điều trị
Có thể dùng các nhóm kháng sinh sau đây:
- Nhóm betalactam thế hệ cũ (amoxicilin hay amoxicilin + acid clavulanic, penicilin G tiêm) và thế hệ mới (cephalothin, cefuroxim).
- Nhóm macrolid thế hệ cũ (erythromycin và mới (clarythromycin, azithromycin).
- Nhóm fluoroquinolon có phổ rộng: ciprofloxacin, ofloxacin, norfloxacin.
- Nhóm aminozid: gentamicin.
Do tiếp xúc với nhiều thuốc, nhiều thông tin mới và do kinh nghiệm, thói quen của thầy thuốc, người dùng ở từng vùng mà việc dùng các kháng sinh điều trị VPCĐ có dựa vào nhưng không hoàn toàn theo sát các tài liệu trên.
Có thể kể ra dưới đây một số trường hợp:
+ Khuyến cáo của Ban tư vấn về sử dụng kháng sinh Bộ Y tế (BTVSDKS) về thuốc uống dùng cho trẻ dưới 5 tuổi là cotrimoxazol và amoxicilin. Cotrimoxazol bị S.pneumoniae kháng tỷ lệ 62%, hơn nữa cotrimoxazol độc với thận, đường niệu (phải nghiền nhỏ, uống nhiều nước), không dùng được cho trẻ sơ sinh, trẻ đẻ non có vàng da nên tuyến cơ sở ngại, có nơi hầu như không dùng (dù được các chương trình cấp nhiều). Amoxicilin hấp thu tốt và vững bền, đỡ phải uống nhiều lần như ampicilin, được dùng khá rộng rãi. Có thể dùng biệt dược kết hợp amoxicilin + acid clavulanic, do thuốc dễ uống, hiệu quả điều trị cao hơn nhưng chi phí lại đắt hơn.
+ Khuyến cáo của BTVSDKS về thuốc tiêm bao gồm benzylpenicilin, chloramphenicol, cephalothin, cefuroxim. chloramphenicol bị S.pneumoniae kháng tỷ lệ 27% chưa phải là cao so với thuốc khác, nhưng có độc với tủy xương nên hầu như cả thầy thuốc và người bệnh đều không muốn dùng. Theo dõi nhiều năm hầu như chloramphenicol được cấp phát về trung tâm y tế đều bị hủy, trong khi các trường hợp VPCĐ nặng từ tuyến dưới chuyển lên đều được thay dùng bằng các kháng sinh khác.
+ Một số thuốc mới thuộc nhóm fluoroquinolon không được BTVSDKS nêu ra nhưng các thầy thuốc (chủ yếu ở phòng khám tư) vẫn dùng. Biệt dược được dùng nhiều là ciprofloxacin (kế đến là ofloxacin, norfloxacin). Ở Bắc Mỹ, fluoroquinolon cũng được khuyến cáo trong phác đồ điều trị VPCĐ, nhưng chỉ được xem là nhóm dự phòng khi các nhóm khác (macrolid và doxycyclin) ít hiệu quả. Tỷ lệ kháng thuốc của S.pneumoniae với fluoroquinolon ở ta đã khá cao (norfloxacin 10 - 22,2%, ofloxacin 3,2%, ciprofloxacin 9,1%), bằng với tỷ lệ ở các nước khác (chung là 4%, riêng ở Hồng Kông là 14%).
+ Nhóm macrolid thế hệ cũ như erythromycin bị S.pneumoniae kháng tỷ lệ 45,1% ít được dùng nhưng thế hệ mới như clarithromycin, azithromycin lại được bắt đầu (chủ yếu là ở các vùng thành thị, do giá thuốc cao). Nhóm macrolid là nhóm ưu tiên trong phác đồ điều trị VPCĐ ở Bắc Mỹ, nhưng ở ta chưa có một đánh giá nào cụ thể.
+ Nhóm aminozid nhiều nhất là gentamycin, tuy chỉ được hướng dẫn dùng trong tuyến trên ở một số trường hợp viêm phổi nặng (do tụ cầu, do nhiễm khuẩn gram âm Klebssiela pneumoniae...) thì hầu như ở cơ sở được dùng khá rộng rãi.
Hiện nay, do tình trạng kháng kháng sinh của các vi khuẩn gây bệnh đang trở thành vấn đề nhức nhối, cản trở việc điều trị thì việc lựa chọn kháng sinh phù hợp là vô cùng cần thiết. Một gợi ý là: nên chọn một nhóm kháng sinh ưu tiên để điều trị, khi không thành công thì mới dùng đến một nhóm kháng sinh khác. Cách dùng này có thể được xem như "tiết kiệm" do vừa có thuốc tấn công vừa có thuốc dự trữ.
(Theo DS. Thủy Hà // Báo Sức khỏe và Đời sống)
- Cách dùng viên nifedipin chữa tăng huyết ápNifedipin là thuốc chẹn kênh canxi thuộc nhóm dihydropyridin có tác dụng chống tăng huyết áp (do làm giảm sức căng ở cơ trơn các tiểu động mạch, dẫn đến làm giảm sức cản ngoại vi và làm giảm huyết áp). Với loại viên 10mg là loại thuốc có tác dụng ngắn vì thế phải dùng nhiều lần trong ngày (thường là 3 viên/ngày chia 3 lần)
- Dùng thuốc khi đau xương khớpKhi xảy ra cơn đau cấp tính ở một vùng cơ xương nào đó, việc đầu tiên người bệnh nên làm là nghỉ ngơi, tránh giác hút, châm nặn máu ở các huyệt. Một số thuốc giảm đau có thể sử dụng ngay trong một hai ngày đầu là:
- Ngộ độc methanolMethanol là một loại rượu có độc tính cao, thường gặp trong chất dung môi dùng lau kính xe, chất chống đóng băng cho ống dẫn xăng dầu, dung dịch mực in cho máy photocopy, nhiên liệu cho các bếp lò nhỏ, dùng pha sơn và như một chất dung môi công nghiệp. Hiện nay có thêm những ứng dụng mới cho methanol, nhất là việc đề nghị sử dụng nó như một nguồn năng lượng thay thế.
- Thuốc lợi niệu: Không chỉ chữa triệu chứngCó rất nhiều lý do gây nên bí tiểu tiện và phù như suy tim, xơ gan, xơ gan cổ trướng, phù phổi cấp, nhiễm độc thai nghén... Nhiều người cho rằng các loại thuốc lợi niệu chỉ chữa triệu chứng nên tự ý mua dùng. Thực tế trong các bệnh này thuốc lợi niệu đôi khi lại là một trong các thuốc chữa bệnh chính nên việc dùng không hề đơn giản.
- Thuốc điều trị thiếu máu trong suy thận mạnThiếu máu là một triệu chứng quan trọng trong biểu hiện mức độ suy thận. Suy thận càng nặng thì thiếu máu càng nhiều. Điều trị thiếu máu là một trong các biện pháp tổng hợp điều trị bảo tồn suy thận mạn.
- Thuốc mới đặc trị bệnh lây qua đường tình dụcCó khá nhiều bệnh lây truyền qua đường tình dục. Dưới đây là một số bệnh thường gặp:
- Loãng xương - Dùng thuốc thế nào cho an toànLoãng xương là một bệnh xương hay gặp, đặc biệt ở những người cao tuổi và phụ nữ sau mãn kinh. Loãng xương là một vấn đề lớn trong sức khỏe cộng đồng do bệnh thường gặp và chi phí điều trị rất tốn kém. Ở Pháp có tới 4-5 triệu phụ nữ và 1,4 triệu nam giới bị loãng xương, trong đó 10% bị tàn phế và chi phí điều trị lên tới 1,35 tỷ frans. Ở Việt Nam, loãng xương chiếm tỷ lệ 13-15% phụ nữ sau mãn kinh.
- Điều trị viêm xương tủy nhiễm khuẩnViêm xương tủy nhiễm khuẩn (VXTNK) hay cốt tủy viêm, là tình trạng nhiễm trùng của xương, thường là của vỏ hoặc tủy xương, do vi khuẩn sinh mủ không đặc hiệu gây nên.
- Thiểu năng tuần hoàn não, chữa bằng thuốc gì?Tôi 53 tuổi, thường bị nhức đầu, chóng mặt, thỉnh thoảng có cảm giác mất thăng bằng và bị lảo đảo. Có lúc tự nhiên tôi bị ù tai; mắt nhìn mờ, nhất là lúc đang nằm đột ngột ngồi dậy. Xin cho biết tôi bị làm sao và có thuốc gì để chữa?
- Những lưu ý khi dùng thuốc chữa tiêu chảyBệnh tiêu chảy xảy ra khá phổ biến hiện nay. Việc điều trị thường tùy tiện không có sự hướng dẫn của thầy thuốc nên dễ dẫn đến tai biến. Mặt khác lại có nhiều loại thuốc chữa tiêu chảy không cần đơn của thầy thuốc, người bệnh hoặc gia đình tự mua về để trị bệnh, kể cả người bán cũng không quan tâm đến tác dụng phụ có hại của thuốc, cũng như mặt hạn chế của nó trong điều trị tiêu chảy.
- Các thuốc đặc trị bệnh tiêu chảy cấp nguy hiểmBệnh tiêu chảy cấp nguy hiểm có nguyên nhân do phẩy khuẩn tả Vibrio cholerae, với các triệu chứng chính:
- Dùng thuốc chống nôn khi mang thaiTôi năm nay 24 tuổi, mang thai lần đầu. Từ khi có thai cho đến nay được 14 tuần, tôi thường xuyên có cảm giác buồn nôn và nôn rất nhiều. Vì nôn nhiều và không ăn được nên tôi đã bị sút 2kg. Tôi xin hỏi có thể dùng thuốc gì để hạn chế tình trạng trên?
- Cách dùng viên thuốc tránh thai Viên thuốc tránh thai kết hợp hormon liều thấp, thường gặp, rẻ tiền lại dễ sử dụng hiện nay là New Choise mỗi vỉ có 28 viên (ứng với chu kỳ kinh nguyệt 28 ngày), trong đó có 21 viên màu vàng có tác dụng tránh thai đánh số từ 1 đến 21 và 7 viên nâu chỉ là viên bổ máu đánh số từ 22 đến 28.
- Thuốc điều trị khô mắt trong hội chứng SjogrenKhởi động bệnh lý là viêm miễn dịch lan tỏa các tuyến ngoại tiết và toàn bộ bề mặt của mắt. Hậu quả khô mắt của bệnh gây khổ sở kéo dài, gây tàn phế và ảnh hưởng sâu sắc đến chất lượng cuộc sống của người bệnh.
- Suy nhược thần kinh và thuốc trịTỷ lệ bệnh suy nhược thần kinh ngày càng tăng cùng với nhịp sống hối hả trong thời kỳ công nghiệp hóa và hội nhập. Theo một số tác giả thì suy nhược thần kinh là một sản phẩm không thể tránh khỏi của nền văn minh và là một căn bệnh mang tính toàn cầu.
- Sao mãi chẳng khỏi?Tôi năm nay 58 tuổi, bị bệnh đái tháo đường đã 3 năm nay. Gần đây tôi thấy mắt hay ngứa, đỏ, ra nhiều dử mắt. Đi khám bác sĩ bảo tôi bị viêm kết mạc và cho tôi thuốc về dùng. Nhưng tôi thấy dùng mãi mà chẳng khỏi. Xin hỏi có cách nào chữa khỏi bệnh. Tôi xin chân thành cảm ơn!
- Cách sử dụng thuốc đặt âm đạoThuốc đặt là dạng khá phổ biến trong chữa phụ khoa nhưng không nên tự ý dùng nếu chưa được khám cẩn thận. Dùng không đúng chỉ định, không đúng cách sẽ không có hiệu quả mà còn hại. Vì vậy:
- Chất diệt tinh trùngTrong các biện pháp phòng tránh thai đang áp dụng, có thể dùng loại thuốc diệt tinh trùng. đó là chất nonoscinol, có tên khoa học: polyethylen glycol mons (f-nonylphenyl ether) viết tắt N9, có khá nhiều tên biệt dược: conceptrol, duragel, ortheo-delphen, patentex... Đây là một chế phẩm hóa học đặt vào âm đạo có tác dụng hủy diệt hay làm cho tinh trùng bất động.
- Dùng thuốc kháng sinh nên tiêm hay uống?Dùng thuốc kháng sinh nên tiêm hay uống? Cùng với sự bùng nổ của khoa học kỹ thuật và theo nhu cầu ngày càng tăng trong việc điều trị các bệnh nhiễm khuẩn, người bệnh và thầy thuốc đứng trước hàng ngàn loại thuốc kháng sinh khác nhau, mỗi loại thuốc lại có nhiều dạng bào chế khác nhau để tiêm, để uống. Vậy làm thế nào để sử dụng đúng đắn, có hiệu quả mà không tốn kém và không gây hại?
- Tiêm insulin gây tăng cânInsulin là thuốc điều trị cho các bệnh nhân (BN) đái tháo đường (ĐTĐ) týp 1 và một số BN ĐTĐ týp 2. Nó là thuốc có tác dụng hạ đường máu mạnh nhất nên được coi là cứu tinh cho nhiều BN khi không đáp ứng với chế độ ăn hoặc các thuốc uống, và khi BN có các biến chứng tim mạch, gan thận nặng... Ở hầu hết các BN, sau một thời gian điều trị insulin sẽ có tăng cân. Với một số người đây là tin tốt lành nhưng với không ít người đó lại là tác dụng không hề mong muốn chút nào, tuy nhiên vì lợi ích của insulin là rất lớn nên họ vẫn phải chấp nhận. Để giảm thiểu tác dụng phụ này, mọi người bệnh ĐTĐ cần hiểu biết về cơ chế tác dụng của thuốc, trên cơ sở đó áp dụng các biện pháp để hạn chế hoặc tránh bị tăng cân không theo ý muốn.


