Thiếu máu là một bệnh thái không có đủ các hồng cầu khỏe mạnh để chuyên chở đủ ôxy cho mô, khiến bạn cảm thấy mệt nhọc.
Không rõ quê quán. Soạn bộ Y Học Tùng Thư (Hà Nội 1933-1939), Hải Thượng Lãn Ông Toàn Thư (Hà Nội 1942), Nhật Hoa Y Học (Hà Nội 1938), Sách Chữa Bệnh Sởi Và Bệnh Đậu (Hà Nội 1940), Sách Thuốc Gia Truyền Kinh Nghiệm (Hà Nội 1941), Giản Tiện Phương Kinh Nghiệm Cấp Cứu (Hà Nội 1941).
Hiệu Hồng Sinh Đường. Không biết quê quán ở đâu. Năm 1858 soạn bộ Nam Thiên Dục Bảo Toàn Thư, gồm 5 quyển, ghi chép các bài thuốc gia truyền Nam và Bắc.
Là lương dược danh tiếng dưới triều Lê Thế Tông, quê ở Đa Sĩ (Xã Kiến Hưng, tỉnh Hà Tây). Đã chữa bệnh rộng rãi và cứu cho nhân dân qua khỏi vụ dịch năm 1533 bằng thuốc Nam tại địa phương. Ông cũng đã trị cho cho quân đội triều Lê khỏi dịch sốt rét và thổ tả ở Thái Nguyên năm 1547 bằng bài Tam Hoàng Hoàn (Hoàng nàn, Hoàng lực và Hùng hoàng. Ông cũng đã cụ thể hóa nguyên tắc ‘Thanh tâm tiết dục’ của Tuệ Tĩnh bằng ‘Tinh công hô hấp’ dược ghi lại trong sách ‘Hoạt Nhân Toát Yếu’. Tác phẩm y học của ông còn để lại là ‘Hoạt Nhân Toát Yếu’
Quê huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Sống vào cuối đời Tự Đức. Các quan ở Hà Nội mỗi lần bị bệnh đều phải mời ông chữa giúp. Ông soạn bộ ‘Y Lí Toàn Khoa’ gồm hai phần: Phần thứ nhất nói về Âm dương, ngũ hành, ngũ vận lục khí, vinh vệ, lục phủ ngũ tạng, mỗi thứ có một bài phú bằng tiếng Nôm do ông soạn. Phần thứ hai nói về việc quan sát thanh sắc theo bí quyết của Biển Thước, mạch lý, tính dược, bát quái đồ, cổ phương, Phụ khoa, Nhi khoa, điều trị chứng nan y, thời phương và cách nấu cao.
Tự Tử Úy, hiệu Bạch Mao Am. Người xã Thanh Liêu, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Năm 1838 đậu tiến sĩ và được bổ nhiệm làm tri phủ, nhưng sau đó vì phạm lỗi nên bị cách chức. Năm 1843 được phục chức như cũ nhưng ông cáo bệnh không nhận. Ông tinh thông nho học và y học. Ông rất giỏi thơ Nôm, đọc sách chỉ xem qua một lần nà nhớ hết, viết văn không cần thảo trước.
Tự Hy Long, hiệu Thiện Đình. Người xã Hành Thiện, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Đậu tú tái 1846, 1848, cử nhân 1850, đạu tiến sĩ 1856, giữ chức tuần phủ Hải Dương, vì để mất thành nên bị cách chức. Sau đó được phục hồi hàm Quang lộc, tự Thiếu khanh, lĩnh chức Đốc học tỉnh Nam Định. Ông thích nghiên cứu thiên văn và y học, nhất là dược thảo. Năm 1901 ông soạn quyển Nam Phương Danh Vật Khảo.
Quê ở làng Cõi,huyện Vĩnh Lại, phủ Trung Hồng tỉnh Thượng Hộng (nay là thôn Hội Am, xã Cao Minh, huyện Vĩnh Bảo, tp Hải Phòng). Gia đình toàn là những người thông minh, học cao. Thuở nhỏ ông nổi tiếng là thần đồng, năm 13 tuổi đã đi thi Hương, đậu Hương cống đời Hậu Lê. Kỳ thi Hội, ông đứng thứ nhì, đạt danh hiệu Bảng nhãn, vì vậy, dân làng còn gọi ông là Bảng Cõi. Năm 1673 ông được triều đình cử làm phó sứ đoàn Hộ sĩ dương sang Trung quốc.
Copyright © 2009 - 2012 USS Corp . All rights reserved.
Thông tin trong trang tinsuckhoe.com chỉ có tính chất tham khảo. Cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi áp dụng
Ghi rõ nguồn "tinsuckhoe.com" hoặc "Cổng thông tin chăm sóc sức khỏe và y tế cộng đồng " khi bạn phát hành lại thông tin từ trang này.
Địa chỉ: 13 Ngõ 54 Phố Kim Ngưu - Quận Hai Bà Trưng - Hà Nội
Mọi thông tin góp ý, hợp tác xin liên hệ: tinsuckhoe@gmail.com - Mobile: 0982 750 284.
Xem tốt nhất với trình duyệt Mozilla Firefox 3.0 ++