Nhà triết học Socrates, hoàng đế Julius Caesar, Napoleon, văn hào Nga Dostoevsky... đều bị động kinh. Tài năng xuất chúng của họ được cho là có liên quan đến căn bệnh.
 |
| Văn hào Nga Fyodor Dostoevsky. |
Nhiều nhà khoa học cho rằng, nếu nhà văn Nga Fyodor Dostoevsky không mắc bệnh động kinh thuỳ thái dương, văn học thế kỷ 19 chắc không thể phong phú đến vậy. Dostoevsky trải qua hơn 100 cơn co giật trong suốt 20 năm cuối đời. Nhiều nhân vật của ông là bệnh nhân động kinh, và họ được miêu tả một cách thần kỳ, như nhân vật Smirdyakov trong tiểu thuyết Anh em Karamazov, hoàng tử Myshkin trong Kẻ ngu dốt...
Dostoevsky nói về các cơn động kinh của mình: “Tôi trải qua niềm hoan lạc không thể có lúc bình thường. Sự hài hoà trong tôi và toàn thể cõi đời thật ngọt ngào và mạnh mẽ, vài giây có thể đánh đổi mười năm sống hay cả cuộc đời”. Sau cơn co giật, có sự xáo trộn đầu óc và cơ thể.
Bệnh động kinh thuỳ thái dương
Thuở xưa, dân gian thường nghĩ bệnh động kinh là do quỷ thần, tà ma nhập vào thân thể. Các thầy tu, thầy cúng xua đuổi tà ma bằng pháp thuật và khấn vái. Các thầy thuốc thời cổ như Atreiya ở Ấn Độ và Hippocrates ở Hy Lạp đã phản bác lại và chỉ ra rằng, bệnh động kinh là sự xáo trộn chức năng của não. Tuy vậy, trong nhiều thế kỷ, động kinh vẫn bị coi là “bệnh tà”, là nỗi ô nhục và bệnh nhân phải chịu cách đối xử gây thương đau.
Vào thế kỷ 19, khi thần kinh học tách ra khỏi tâm thần học, nguyên nhân gây động kinh được làm rõ dần. Năm 1860, lần đầu tiên John Jackson nhận ra bệnh gây ra do não có chỗ hư hại hoặc có sẹo, gọi là “ổ co giật”. Đến năm 1985 bệnh có tên chính thức là động kinh thuỳ thái dương, bởi các cơn co giật bắt nguồn từ thuỳ thái dương. Các thiết bị y khoa hiện đại như máy CT (cắt lớp điện toán), MRI (cộng hưởng từ) và máy PET cho phép nhìn rõ bộ não, biết não hư kiểu nào, chỗ nào, gây xáo trộn thần kinh gì.

|
| Các cơn co giật bắt nguồn từ thùy thái dương của não. |
Tật bệnh và thiên tài
Các cơn co giật động kinh có uy lực làm liên tưởng đến một mối liên hệ với óc sáng tạo hoặc khả năng thần kỳ. Các học giả sững sờ về những bậc kỳ tài mắc bệnh động kinh. Triết gia Aristotle là người đầu tiên đặt mối liên hệ giữa động kinh và óc sáng tạo, trong đó Socrates đứng đầu danh sách nhiều danh nhân mắc bệnh này.
Socrates, ngọn đuốc tư tưởng phương Tây, sau 2.400 năm đã được định bệnh là mang chứng động kinh nhẹ. Đại đế Alexander cũng mắc bệnh này. Hoàng đế La Mã Julius Caesar có lần bị phong giật ngã xuống sông Tiger. Năm 2003, John Hughes kết luận hoàng đế Napoleon cũng bị động kinh. Soren Kierkegaard cha đẻ thuyết hiện sinh, các nhà soạn nhạc kỳ tài Handel, Paganini và Tchaikovsky cũng đều là nạn nhân của bệnh này.
Giáo sư thần kinh học Jerome Engel coi sự gặp gỡ giữa tài năng đặc biệt và căn bệnh trên trong một con người chỉ là sự trùng hợp. Nhưng các chuyên gia khác không đồng ý, và tuyên bố đã tìm ra mối liên hệ giữa bệnh động kinh và thiên tài ở một số người. Eve la Plante cho rằng sự hoạt động bất thường của não ở bệnh động kinh có vai trò trong sự suy nghĩ sáng tạo. Paul Spiers có lập luận tương tự: co giật làm bùng lên xung điện ở các vị trí khác nhau của phần não về cảm xúc cũng như trí nhớ. Nhà phân tâm học David Bear nhận thấy sự hoạt động bất thường trong bệnh động kinh có thể kết nối nhiều hoạt động thần kinh.
Ngoài việc dễ bị ảo tưởng, bệnh động kinh còn kéo theo chứng ham thích viết lách. Khao khát viết và viết liên tục thường xuất phát từ thuỳ thái dương. Vẽ không ngừng và viết cho anh trai nhiều bức thư mỗi ngày, hoạ sĩ huyền thoại Van Gogh mang cả bệnh động kinh và rối loạn lưỡng cực.
Triệu chứng chính của động kinh là mất ý thức trong thời gian ngắn, mất phán đoán, không kiểm soát được thái độ, hành vi, có thể gặp ở bất cứ tuổi nào. Triệu chứng thay đổi tuỳ người bệnh. Thường có sự báo hiệu gọi là tiền chứng: các ảo giác về giọng nói, âm nhạc, mùi vị lạ. Co giật sẽ gây ra các xáo trộn vận động, cảm giác và ý thức. Co giật có thể khiến người bệnh câm nín hoặc trả lời lộn xộn, bước đi lung tung, bậm môi, giật xé quần áo, giằng co với ai kềm giữ. Động kinh có thể chỉ vài giây hoặc đến vài phút. Thường người bệnh không nhớ ra sự co giật. Có khi cơn co giật nhẹ đến nỗi người bệnh khó nhận ra. Đôi khi các cơn co giật một phần lại nặng lên, lan rộng. Trong nửa đầu thế kỷ 20, thuốc trị động kinh chính là phenobarbiton (từ năm 1912) và phenyltoin (từ năm 1938). Từ những năm 1960, có thêm nhiều thuốc mới nhờ hiểu được luồng thần kinh và các chất dẫn truyền. Ngày nay, khoảng 80% - 90% ca động kinh được kiểm soát. Có khoảng 50 triệu người trên thế giới mắc bệnh, hơn phân nửa không được trị liệu đúng mức. Ngày nay, bệnh nhân có các co giật gây hậu quả trầm trọng hoặc trị thuốc không xuể, hoặc thuốc gây phản ứng phụ quá đáng thì được thầy thuốc cân nhắc mổ bứng lấy ổ động kinh. Phẫu thuật giúp loại bỏ co giật hoặc làm giảm đáng kể khoảng 70% - 90% triệu chứng bệnh. |
(Theo Baodatviet)