• Trị chứng đau thần kinh do đái tháo đường
  • Các biến chứng mắt do đái tháo đường
  • 9 cách phòng tránh biến chứng của đái tháo đường
  • Sự nguy hiểm của biến chứng bàn chân
  • Biến chứng thần kinh của bệnh đái tháo đường
  • Biến chứng thận do bệnh đái tháo đường
  • Trẻ em và bệnh đái tháo đường
  • Tai biến mạch máu não ở bệnh nhân đái tháo đường
  • Trị đái tháo đường bằng đông y
  • Những nhân tố ngoài gen gây ra bệnh tiểu đường
  • Bệnh đái tháo đường có thể ảnh hưởng tới não
  • Tiểu đường: Đường nhiều, tinh trùng bị thương tổn
  • Phòng ngừa biến chứng ở bệnh tiểu đường
  • Loét ở người tiểu đường: Trị bằng bôi mật ong?
  • Chích insulin chưa là bước cuối
  • Bệnh tiểu đường và thức uống
  • Tiểu đường và các bệnh về mắt
  • Bệnh tiểu đường và biến chứng
  • Kiểm soát bệnh đái tháo đường
  • Đái tháo đường dẫn đến loãng xương
  • Tiểu đường kết hợp cao huyết áp: Biến chứng trên mắt
  • Biến chứng nhiễm khuẩn ở bệnh nhân tiểu đường
  • Những hiểu biết cơ bản về đái tháo đường
  • 7 thắc mắc hàng đầu về bệnh tiểu đường ở trẻ em
  • Tổng quan chung về bệnh đái tháo đường (Phần2)
  • Tổng quan chung về bệnh đái tháo đường (Phần 1)
  • Tránh nguy cơ cắt cụt chân do đái tháo đường
  • Ôi, cái chân nhiễm trùng!
  • Phòng ngừa biến chứng mắt do tiểu đường
  • Đái tháo đường và bệnh mắt
  • Bệnh đái tháo đường và hạn chế biến chứng thần kinh
  • Tổn thương thần kinh ở bệnh nhân đái tháo đường
  • Các biến chứng tim mạch do tiểu đường
  • Bệnh tiểu đường và những vấn đề cần lưu ý
  • Các biện pháp ngăn ngừa biến chứng do đái tháo đường
  • Những điều cần biết về bệnh tiểu đường
  • Những hướng dẫn phòng ngừa tiểu đường
  • Đối tượng nào dễ mắc bệnh tiểu đường?
  • Làm sao biết mình bệnh tiểu đường?
  • Phòng ngừa bệnh tiểu đường
  • Bệnh tiểu đường và những vấn đề thường gặp
  • Những điều cần biết về tiểu đường thai kỳ
  • Bệnh tiểu đường trong kỳ mang thai

Tổng quan chung về bệnh đái tháo đường (Phần 1)

Bệnh lý đái tháo đường là gì ?

 

Đái tháo đường (ĐTĐ)  - thuật ngữ Y khoa là Diabetes mellitus – là nhóm bệnh lý ảnh hưởng đến cách thức sử dụng đường (glucose) trong máu của cơ thể của chúng ta. Lượng đường nầy cần cho sức khoẻ của bạn vì nó là nguồn năng lượng chính của cơ thể{josquote}Bệnh đái tháo đường diễn biến âm thầm, có vẻ không nguy hiểm nhưng có thể gây tàn phế cho người bệnh

 

Bình thường, glucose có thể đi vào trong tế bào nhờ hoạt động của insulin – một hormone được tiết ra bởi tuyến tụy. Insulin hoạt động như những cổng cực nhỏ cho phép glucose đi vào trong tế bào. Nhưng ở bệnh nhân đái tháo đường, quá trình nầy bị thất bại. Thay vì vận chuyển vào trong tế bào, glucose tích tụ lại trong dòng máu và cuối cùng thải ra ngoài cơ thể qua đường nước tiểu. Điều nầy xảy ra là do hoặc tuyến tụy không sản suất đủ lượng insulin cần thiết hoặc các tế bào không đáp ứng với insulin một cách thích hợp

 

Càng ngày càng có nhiều người Mỹ bị đái tháo đường. Bệnh lý nầy ảnh hưởng đến 16 triệu người lớn và trẻ em, có đến gần 1/3 số người nói trên không biết rằng họ đang mang đang có bệnh lý nầy. Đó là do bệnh lý nầy có diễn tiến từ từ trong nhiều năm, thường không có triệu chứng.
 

Đái tháo đường chủ yếu có 2 dạng – type 1 và type 2.
 

Type 1 của ĐTĐ  tiến triển khi sản xuất rất ít hoặc không sản xuất ra insulin. Nó ảnh hưởng từ 5 – 10% tổng số người mắc bệnh. Type 1 thường được gọi là ĐTĐ phụ thuộc insulin hay ĐTĐ ở người vị thành niên. Nhưng tên gọi nầy cũng có thể bị thay đổi do type 1 cũng xảy ra ở người lớn tuổi, không chỉ có ở trẻ em và trẻ vị thành niên. Ngoài ra, những người bị ĐTĐ type khác cũng cần dùng insulin

ĐTĐ type 2 xảy ra phổ biến hơn so với type 1, ảnh hưởng đến 90 – 95% tổng số người bị ĐTĐ. Nó được gọi là ĐTĐ người lớn hay ĐTĐ không phụ thuộc insulin. Nhưng nó cũng có tên mới. Đó là do càng ngày có nhiều người trẻ tiến  triển  type bệnh lý nầy và cũng có một số người ĐTĐ type 2 cũng sử dụng insulin. ĐTĐ type 2 xảy ra khi tế bào tụy sản xuất ra lượng insulin không đủ hoặc cơ thể sản xuất ra chất kháng insulin

 

Cả 2 type của ĐTĐ đều tiến triển trầm trọng. Sự tích tụ glucose trong máu có thể gây tổn thương các cơ quan lớn trong cơ thể. Cuối cùng, ĐTĐ gây tử vong cho người bệnh. Đây là nguyên nhân gây tử vong cho 200000 người Mỹ mỗi năm.

 

Dấu hiệu và triệu chứng


ĐTĐ thường không có triệu chứng. Đặc biệt là ĐTĐ type 2 có tiến triển chậm. Nhiều người đã có bệnh lý nầy 8 năm trước khi được chẩn đoán. Khi bệnh tiến triển thường biểu hiện những triệu chứng khác nhau. Nhưng có 2 triệu chứng điển hình hay gặp là khát nước nhiều và tiểu nhiều.

 

Do lượng glucose quá cao trong máu đã kéo nước từ các mô vào máu, Tạo nên cảm giác mất nước. Để làm dịu cơn khát thì người ta có xu hướng uống nhiều nước và các loại đồ uống khác, và điều nầy dẫn đến việc bài xuất nhiều nước tiểu.

 

Những triệu chứng cảnh báo khác bao gồm:

  • Triệu chứng giống cúm. Người bị ĐTĐ thỉnh thoảng bị một đợt nhiễm siêu vi, mệt mỏi, suy nhược và chán ăn. Đường là nguồn năng lượng chính của cơ thể do đó khi không vào được cơ thể sẽ gây nên cảm giác mệt mỏi và yếu ớt.
     
  • Tăng hoặc giảm cân. Do cơ thể cố gắng bù trừ lượng đường và dịch bi mất, chúng ta có thể ăn nhiều hơn bình thường và sẽ tăng cân. Nhưng điều ngược lại cũng có thể xảy ra. Chúng ta ăn nhiều hơn bình thường, nhưng vẫn giảm cân là do mô cơ không nhận đủ glucose dể tạo năng lượng và hoạt động. Điều nầy đặc biệt có ý nghĩa ở người bị ĐTĐ type 1, loại mà có rất ít glucose đi vào trong tế bào. Thực tế, hầu hết người bị ĐTĐ type 1 thường có trọng lượng cơ thể ở mức bình thường hoặc dưới mức bình thường
     
  • Nhìn mờ. Nồng độ cao của đường trong máu sẽ kéo dịch ra khỏi mô của cơ thể – bao gồm cả thấu kính của mắt. Điều nầy ảnh hưởng đến khả năng điều chỉnh của mắt. Khi ĐTĐ được điều trị và đường huyết giảm thì khả năng nhìn sẽ được cải thiện. Tuy nhiên, sau nhiều năm ĐTĐ sẽ ảnh hưởng đến võng mạc – phần nằm sau của mắt - cũng như gây tổn thương những mạch máu nhỏ. Đối với nhiều người nguyên nhân nầy chỉ gây ảnh hưởng đến khả năng nhìn ở mức độ nhẹ. Nhưng đối với người khác thì có ảnh hưởng một cách trầm trọng đến khả năng nhìn. Trong một số trường hợp ĐTĐ có khả năng gây mù vĩnh viễn.
     
  • Dễ bị nhiễm trùng và lành chậm vết thương. ĐTĐ ảnh hưởng đến khả năng chống lại nhiễm trùng và quá trình lành vết thương. Nhiễm trùng bàng quang và âm đạo là những vấn đề đặc biệt hay gặp ở nữ giới.
     
  • Tổn thương thần kinh(neuropathy). Lượng đường huyết cao sẽ gây tổn thương những mạch máu nuôi thần kinh, gây nên một số triệu chứng. Phổ biến nhất là triệu chứng tê bì và mất cảm giác ở tay và chân. Cũng có thể có cảm giác đau kiểu bỏng rát ở chân, tay, cánh tay và khuỷu tay. Ngoài ra, có khoảng hơn một nửa số bệnh nhân nam trên 50 tuổi có vấn đề về tình dục gây tổn thương thần kinh gây sự cương của dương vật.
     
  • Sưng, đỏ, đau nướu răng. ĐTĐ gây nên tăng nguy cơ nhiễm trùng ở nướu răng và chân răng. Kết quả gây nên sưng phồng nướu răng và làm cho răng trở nên lỏng lẻo, gây đau nhức và tạo mủ ở chân răng.

Nguyên nhân


Trong tiến trình tiêu hoá, cơ thể lấy carbohydrate từ thực phẩm như bánh mì, gạo, mì sợi, rau, trái cây và sữa để tạo thành những phân tử đường khác nhau. Một trong các loại đó là glucose, nguồn năng lượng chính của cơ thể. Glucose được hấp thu trực tiếp vào dòng máu sau khi ăn, nhưng nó không thể đi vào trong tế bào mà không có sự giúp đỡ của insulin – một hormone được tiết ra bởi tuyến tụy. Tụy là cơ quan nằm ở phía sau dạ dày. Khi nồng độ glucose trong máu tăng, chúng phát tín hiệu cho tế bào beta của tuyến tụy phóng thích ra insulin. Insulin sẽ đến “mở cổng ” để glucose đi vào trong tế bào. Điều nầy giúp cho lượng glucose trong máu không tăng cao có thể gây nguy hiểm cho cơ thể.Khi nồng độ glucose trong máu xuống thấp, tuyến tụy sẽ ngưng bài tiết insulin.

 

Gan là nơi dự trữ glucose dư thừa dưới dạng glycogen. Khi nồng độ glycogen trong máu xuống thấp, gan sẽ chuyển glycogen dự trữ thành glucose và phóng thích nó vào trong dòng máu.

 

Khi chức năng của tuyến tụy bình thường, lượng glucose trong máu dao động đáp ứng với một số các yếu tố, bao gồm loại thực phẩm chúng ta ăn vào, hoạt dộng thể lực, stress và nhiễm trùng. Nhưng mối liên quan phức tạp của insulin, glucose, gan và những hormone khác đảm bảo cho lượng đường trong máu trong giới hạn cho phép.

 

Tuy nhiên, thỉnh thoảng điều nầy không hoàn toàn đúng. Hoặc cơ thể không sản xuất đủ lượng insulin để giúp đưa glucose vào trong tế bào hoặc bản thân các tế bào trở nên đề kháng với insulin. Trong trường hợp đó hậu quả là việc tăng nồng độ glucose trong máu. Nguyên nhân của tình trạng tăng glucose trong máu phụ thuộc vào loại đái tháo đường cụ thể. Phân loại đái tháo đường và nguyên nhân của nó bao gồm:
 

ĐTĐ type 1. Dạng nầy của ĐTĐ sinh ra là do tuyến tụy sản xuất ra lượng insulin không đủ. Điều nầy xảy ra do cơ chế tự miễn của cơ thể tấn công ngay chính tuyến tụy, Huỷ hoại tế bào bêta có chức năng sản xuất ra insulin. Bình thường, hệ thống miễn dịch tấn công virus, vi khuẩn và những vi sinh xâm lấn khác. Các nhà nghiên cứu không chắc rằng những nguyên nhân nào của hệ thống miễn dịch đã tấn công lên tuyến tụy, nhưng người ta tin tưởng rằng có một số yếu tố di truyền, một vài virus và chế độ ăn đả gây ra cơ chế nầy. Mặc dù ĐTĐ type 1 vẫn có thể không phát hiện được trong nhiều năm, các triệu chứng có thể xuất hiện trong vài tuần đến vài tháng – thường là sau một đợt mắc 1 bệnh lý nào đó.

 

ĐTĐ type 2. không giống như type 1, dạng nầy không phải3 là bệnh lý tự miễn. Có thể có 1 hoặc 2 quá trình diễn ra : hoặc tụy không sản xuất đủ lượng insulin cho phép glucose đi vào trong tế bào, hoặc là tế bào trở nên đề kháng với insulin. Người ta không biết rõ tại sao lại xảy ra điều nầy, nhưng tình trạng quá trọng và dư thừa mỡ là yếu tố quan trọng. Hầu hết những người ĐTĐ type 2 đều quá trọng.

 

ĐTĐ ở người trẻ (MODY). Hiếm gặp, dạng di truyền của ĐTĐ type 2 và thường gặp ở tuổi thiếu niên.

ĐTĐ thai kỳ. Loại nầy của ĐTĐ thỉnh thoảng tiến triển trong thai kỳ – thường là vào tam cá nguyệt thứ 2 và 3. Xảy ra ở khoảng 2 – 3% tổng số phụ nữ mang thai và khi hormone được sản xuất bởi nhau thai bị gián đoạn do ảnh hưởng của insulin. ĐTĐ thai kỳ biến mất ngay sau khi sinh, Nhưng có khoảng ½ trong số nầy tiến triển thành ĐTĐ type 2 vĩnh viễn sau sinh. Trong những trường hợp hiếm gặp, ĐTĐ type 1 cũng có thể xảy ra trong thai kỳ, dẫn đến nồng độ glucose trong máu cao sau khi sinh mà đòi hỏi phải điều trị bằng insulin.

 

Có khoảng 1 – 2% tổng các trường hợp chẩn đoán ĐTĐ do hậu quả của bệnh lý hoặc do thuốc mà nó làm cản trở hoạt động của insulin. Chúng bao gồm những thuốc kháng viêm hoặc phẫu thuật cắt bỏ tuyến tụy, rối loạn hoạt động tuyến thượng thận, suy dinh dưỡng, nhiễm trùng và thuốc corticosteroid, chẳng hạn như prednisone.

 

 

Các yếu tố nguy cơ.


Mặc dù các nhà nghiên cứu không biết một cách đầy đủ tại sao người ta mắc hoặc không mắc bệnh lý ĐTĐ, nhưng rõ ràng là có một số yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng mắc bệnh ĐTĐ. Các yếu tố nầy bao gồm:

  • Tiền sử gia đình. Khả năng bị ĐTĐ của một người sẽ gia tăng khi có họ hàng gần, chẳng hạn như bố mẹ hoặc anh chị em ruột bi bệnh ĐTĐ.
     
  • Trọng lượng. Quá trọng là một trong những yếu tố nguy cơ chính của bệnh lý ĐTĐ – 8 trong số 10 người ĐTĐ type 2 có tình trạng quá trọng. Do có quá nhiều mô mỡ sẽ trở nên đề kháng với chính insulin. Thật ra, mối liên kết giữa béo phì và ĐTĐ được các nhà nghiên cứu gọi là sự đối kháng, một loại hormone được khám phá ở chuột có thể làm cho tế bào đề kháng với insulin. Diều quan trọng không phải là bạn quá trọng bao nhiêu cân mà nó còn phụ thuộc vào cách thức phân bố khối lượng trên cơ thể. Nếu quá trọng ở phần trên của cơ thể đặc biệt là nhiều ở vùng bụng (dạng quả táo) – sẽ có rất nhiều nguy cơ bị ĐTĐ. Ngoài ra, phụ nữ có trong lượng cơ thể trung bình – 10 đến 20 pound – có nguy cơ cao bị ĐTĐ thai kỳ. Tin tốt lành cho những người bị ĐTĐ quá trọng là họ có thể cải thiện nồng độ đường huyết bằng cách giảm bớt trọng lượng cơ thể. Ngay cả khi giảm trọng lượng ít cũng có ích lợi.
     
  • Kém hoạt động. Bạn hoạt động càng ít thì càng có nguy cơ cao bị ĐTĐ. Hoạt động thể chất giúp kiểm soát được trọng lượng cơ thể, sử dụng lượng glucose dư thừa, làm cho các tế bào nhạy cảm hơn với insulin, tăng lưu lượng máu và cải thiện tuần hoàn đến các mao mạch. Hoạt dộng thể lực giúp tạo thành khối cơ vững chắc. Điều nầy là quan trọng bởi vì hầu hết lượng glucose trong máu được hấp thu vào trong hệ cơ. Khi mô cơ bị suy yếu, nhiều glucose sẽ ở lại trong máu.
     
  • Tuổi. Nguy cơ ĐTĐ type 2 gia tăng theo tuổi – đặc biệt là sau 45 tuổi. Thường thường, đây là khuynh hướng sinh ra do giảm hoạt động thể lực, giảm thể tích khối cơ. Nhưng ĐTĐ có thể gia tăng một cách đánh kể ở người trẻ từ 30 – 40 tuổi.
     
  • Chủng tộc. Yếu tố nầy hầu như không rõ ràng, Người ta cho rằng có một vài chủng tộc có nhiều nguy cơ bị ĐTĐ. Có khoảng 6% dân số được chẩn đoán ĐTĐ. Nhưng tỷ lệ nầy gấp đôi ở người da đen và người Tây ban nha và hơn gấp đôi ở người Mỹ gốc Ấn Độ. Trong số những người Ấn Độ Pima có ½ số người lớn bị ĐTĐ  - là một trong những nơi có tỷ lệ ĐTĐ cao nhật thế giới. Mặt khác, ĐTĐ type 1 xảy ra phổ biến hơn ở người Cáp-ca và một số nước Châu Âu như Phần Lan và Thuỵ Điển.

Khi nào nên điều trị bằng thuốc


Nên đi khám ở Bác sĩ khi bạn phát hiện có một số dấu hiệu nghi ngờ bệnh lý ĐTĐ, đặc biệt là khi có khát nước nhiều và tiểu nhiều. Và nếu đã được chẩn đoán là có bệnh lý ĐTĐ, nên kiểm tra đều đặn nồng độ glucose trong máu.Nên thường xuyên khám BS hoặc các thành viên trong đội chăm sóc sức khoẻ cá nhân cho bạn để kiểm tra cách bạn thực hiện điều trị. Nếu có rắc rối trong việc điều trị giảm đường huyết hoặc thay đổi thuốc, bạn cần phải tiếp xúc với các thành viên của đội chăm sóc sức khoẻ cho bạn vào mỗi tuần. Ngay cả khi BS khuyên thay đổi thuốc hằng ngày cho, đến khi đường huyết ổn định. Nhưng khi bạn cảm thấy khoẻ và có thể giữ đường huyết ở mức ổ định và được sự đồng ý của BS thì có thể tái khám mỗi 3 tháng. Ngoài ra, nên khám bệnh tổng quát mỗi 1 năm. Trong quá trình nầy các BS sẽ tìm ra các bệnh lý đi kèm với ĐTĐ.

 

Bởi vì chăm sóc chân là vấn đề đặc biệt quan trọng đối với người bị ĐTĐ, BS sẽ khuyên bạn nên đến khám ở 1 chuyên gia về chăm sóc chân cho người bị ĐTĐ. Bs nầy sẽ chỉ cho bạn cách cắt móng chân để tránh nhiễm trùng. Mua những loại giày phù hợp với đôi chân, phòng ngừa những cục sẹo chai ở chân.

 

Hầu hết những người bị ĐTĐ cũng nên khám chuyên khoa mắt mỗi năm. Nếu tình trạng ĐTĐ khó kiểm soát hoặc có cao huyết áp, bệnh thận hoặc thai kỳ, nên kh1m ở BS mắt thường xuyên hơn.

 

Tầm soát và chẩn đoán


Nhiều người phát hiện được có bệnh đái tháo đường tông qua việc xét nghiệm máu vì một nguyên nhân khác hoặc tình cờ phát hiện qua khám sức khoẻ định kỳ. Nhưng trong một vài trường hợp, ĐTĐ chỉ phát hiện được khi có tổn thương cơ quan đích như mắt, thận hoặc những cơ quan khác. Đó là lý do tại sao Hội ĐTĐ Hoa Kỳ làm xét nghiệm nhanh chẩn đoán ĐTĐ ở tuổi 45. Nếu kết quả bình thường thì lặp lại test nầy vào 3 năm sau. Nếu kết quả ở mức ranh giới cao, nên lặp lại xét nghiệm nầy sau mỗi năm. Các BS cũng có thể thực hiện test nầy nếu phát hiện có triệu chứng hay có yếu tố nguy cơ. Mặc khác, các BS thường không tầm soát bệnh lý nầy trong quá trình khám thường qui.

 

Mặc dù lượng đường trong máu có dao động, độ rộng của giá trị nầy tương đối hẹp. Sau một đêm nghỉ ngơi, nồng độ glucose trong máu từ 70 – 110 mg/dl. Tương đương với khoảng 1 muỗng cà phê đường trong 1 gallon nước. Nếu có nồng độ glucose trong máu thường xuyên trên 126 mg/dl bạn có nhiều khả năng bị bệnh ĐTĐ.

 

Các xét nghiện phát hiện ĐTĐ bao gồm:

  • Tầm soát đường huyết bằng trích máu đầu ngón tay. Test nầy nhanh, dễ thực hiện và rẻ tiền chỉ cần lấy một giọt máu trích ra từ đầu ngón tay. Máu được đặt trên một khay đã xử lý bằng hoá chất và được đưa vào máy để cho ra trị số nồng độ đường trong máu. Nếu nồng độ nầy cao – lớn hơn 126 mg/dl – nên thực hiện test chẩn đoán bình thường, chẳng hạn như xét nghiệm đường huyết lúc đói.
     
  • Xét nghiệm đường huyết ngẫu nhiên. Test nầy là 1 phần của xét nghiệm máu thường qui trong quá trình khám thực thể. Máu được lấy ra từ tĩnh mạch thông qua 1 kim nhỏ và gởi đến phòng xét nghiệm. Vì vậy không thể chẩn đoán nhanh bằng test nầy, bạn có thể vừa mới ăn ngay trước đó và kết quả đường huyết có thể cao. Nhưng không thể trên 200 mg/dl, nếu tr6en trị số nấy thì BS có thể yêu cầu xét nghiệm đường huyết lúc đói.
     
  • Xét nghiệm đường huyết lúc đói. Nói chung, Dường huyết của 1 người cao nhất vào lúc sau ăn và thấp nhất vào buổi sáng sớm. Đó là lý do tại sao người ta thường xét nghiệm đường huyết vào buổi sáng sớm hay sau bữa ăn ít nhất 8 giờ. Thực hiện test nầy, một ít máu được lấy ra từ tĩnh mạch và gởi đến phòng xét nghiệm để phân tích. Nếu kết quả bằng hoặc lớn hơn 126 mg/dl, BS có thể yêu cầu lặp lại test nầy. Nếu kết quả lần thứ 2 vẫn tương tự thì bạn sẽ được chẩn đoán bệnh lý ĐTĐ.
     
  • Test dung nạp glucose. Thường được sử dụng ở phụ nữ có thai để chẩn đoán ĐTĐ thai kỳ. Test dung nạp glucose đòi hỏi uống 1 lượng 8 ounces chất ngọt sau lúc đói 8 giờ. Đường huyết được đo sau khi đã uống lượng nước kể trên, sau đó mỗi 3 giờ đo 1 lần. Nếu đường huyết tăng hơn trị số mong muốn thì nhiều khả năng chẩn đoán ĐTĐ.
     
  • Test glycate Hb. Sau khi đã được chẩn đoán ĐTĐ, BS sử dụng test nầy để đo nồng độ glucose trung bình trong máu vào 2 – 3 tháng trước đó. cũng như test Hb-A1c, đo lượng glucose gắn trên phân tử Hb – phân tử giàu chất sắt của hồng cầu mà nó giúp giải phóng oxy cho cơ thể. Nếu nồng độ đường trong máu cao, sẽ có nhiều phân tử Hb gắn kết với glucose.

 

Biến chứng


ĐTĐ có thể dễ dàng bị bỏ qua, đặc biệt là ở giai đoạn sớm khi cơ thể khoẻ mạnh và không biểu hiện triệu chứng lâm sàng. Nhưng ĐTĐ có tính âm thầm, ảnh hưởng hầu hết lên mọi cơ quan chính trong cơ thể, bạn có thể làm giảm đáng kể nguy cơ của biến chứng.

 

ĐTĐ tạo ra những biến chứng trước mắt và lâu dài, các biến chứng sớm đòi hỏi phải được điều trị khẩn cấp. Biến chứng lâu dài tiến triển dần dần gây tàn phế và đe doạ tính mạng người bệnh.

 

Biến chứng sớm

  • Hạ đường huyết (hypoglycemia). Xảy ra khi nồng độ đường huyết dưới 60 mg/dl. Phổ biến ở những người điều trị bằng insulin, nhưng cũng có thể xảy ra khi sử dụng thuốc uống có tác dụng tăng hoạt động của insulin. Đường huyết có thể giảm do nhiều nguyên nhân, bao gồm nhịn ăn, hoạt động thể lực căng thẳng hơn mức bình thường hoặc không điều chỉnh thuốc khi đường huyết thay đổi. Triệu chứng cơ năng và thực thể sớm bao gồm đổ mồ hôi, run, yếu cơ, đói bụng, choáng váng và nôn ói.Nếu đường huyết dưới 40 mg/dl, có thể nói lắp, ngủ gà và lầm lẫn. Nếu có các dấu hiệu kể trên, ăn hoặc uống những chất có thể làm tăng đường huyết như kẹo, soda, nước trái cây hoặc viên glucose. Thỉnh thoảng nồng độ glucose trong máu có thể giảm rất thấp và bệnh nhân có thể đi vào hôn mê. Tình trạng nầy đe doạ mạng sống của bệnh nhân. Điều trị tốt nhất là tiêm glucagon, một loại hormone có chức năng kích thích việc phóng thích glucose vào máu. Gia đình và bạn của bệnh nhân nên biết cách tiêm glucagon và luôn mang theo thuốc nầy bên người.
     
  • Tăng đường huyết (Hội chứng ĐTĐ ưu trương). Tình trạng nầy gây ra do lượng đường trong máu tăng quá cao – lớn hơn 600 mg/dl – trong máu trở nên “đậm đặc” đường. Chủ yếu xảy ra ở ĐTĐ type 2, đặc biệt là khi không theo dõi lượng đường trong máu hay không biết61 có bệnh ĐTĐ. Nó cũng có thể xảy ra khi dùng corticoid liều cao, uống rượu với số lượng lớn, stress, có bệnh lý khác hay nhiễm trùng đi kèm. Triệu chứng bao gồm khát nước và tiểu nhiều, yếu cơ, chuột rút ở chân, lầm lẫn, co giật và có thể đi vào hôn mê. Nếu đường huyết tăng trên 600 mg/dl, phải điều trị ngay lập tức. Nếu không điều trị tình trạng nầy có thể dẫn tới tử vong.
     
  • Tăng Acid trong máu (ĐTĐ nhiễm ceton). Thỉnh thoảng tế bào đói năng lượng khi cơ thể bắt đầu giảm trọng, tạo ra ngộ độc acid gọi là nhiễm ceton. Điều nầy thường xảy ra ở ĐTĐ type 1. Triệu chứng cơ năng và thực thể – gồm mất cảm giác thèm ăn, nôn ói, sốt, đau dạ dày ngửi được mùi ceton trong hơi thở của bệnh nhân – có thể nhầm lẫn với bệnh cúm. Bạn nên kiểm tra lượng ceton dư trong nước tiểu, rất có ý nghĩa khi lượng đường trong máu thường xuyên trên 240 mg/dl. Bạn cũng có thể mua test thử nồng độ keton ở các hiệu thuốc để thực hiện nó ở nhà. Nếu kết quả cho thấy lượng ceton cao, nên đến khám BS. Nếu không điều trị tình trạng nhiễm ceton nầy có thể dẫn đến hôn mê và tử vong.

 (Theo Sức khỏe cộng đồng) 



Copyright © 2009 - 2012   USS Corp . All rights reserved.

Chăm sóc sức khỏe | Phòng chữa bệnh | Phân loại bệnh quốc tế ICD | Bệnh tai mũi họng | Bệnh răng hàm mặt | Bệnh cơ xương khớp | Bệnh hô hấp | Bệnh tim mạch | Bệnh thận tiết niệu | Bệnh về gan | Bệnh hệ thần kinh | Bệnh ung thư | Bệnh cột sống | Bệnh đường tiêu hóa | Bệnh dạ dày | Bệnh nội tiết | Bệnh đái tháo đường | Bệnh trĩ | Bệnh mắt | Bệnh da liễu | Bệnh béo phì | Trị bệnh bằng trái cây | Lịch tiêm chủng | Chích ngừa | Sơ cứu – cấp cứu | Tủ thuốc gia đình | Sức khỏe người cao tuổi | Phụ nữ mang thai và em bé | Bà bầu | Thai nghén 9 tháng 10 ngày | Trẻ sơ sinh | Sức khỏe trẻ em | Sức khỏe phụ nữ | Sức khỏe nam giới | Sức khỏe giới tính | Chuyện phòng the | Rèn luyện sức khỏe | Làm đẹp | Sống vui khỏe | Dinh dưỡng cho trẻ em | Dinh dưỡng cho người già | Dinh dưỡng cho người cao tuổi | Dinh dưỡng | Thực đơn cho bé | Dinh dưỡng chữa bệnh | Ẩm thực | Món ngon | Món ngon quê nhà | Mẹo vặt | Tư vấn dinh dưỡng | Y học dân tộc | Từ điển y dược học | Bài thuốc dân gian | Đông y chữa bệnh | Hỏi đáp y học dân tộc | Cây thuốc vị thuốc | Danh y việt | Hỏi đáp Tư vấn sức khỏe | Tư vấn sử dụng thuốc | Sản phẩm y tế | Thuốc bổ và vitamin | Thuốc gây tê - gây mê | Thuốc Giảm đau - Hạ sốt  Chống viêm | Thuốc chống dị ứng | Thuốc Cấp cứu - Giải độc | Thuốc hướng tâm thần | Thuốc Chống nhiễm khuẩn Trị ký sinh trùng | Thuốc Điều trị đau nửa đầu | Thuốc chống ung thư | Thuốc điều trị bệnh Đái tháo đường tiết niệu | Thuốc trị Parkinson | Tác dụng cho máu | Máu - Dung dịch cao phân tử | Thuốc trị bệnh tim mạch | Thuốc điều trị bệnh da liễu | Thuốc Dùng chẩn đoán | Thuốc sát khuẩn | Thuốc lợi tiểu | Thuốc đường tiêu hóa | Hocmon - Nội tiết tố | Huyết thanh & Globulin miễn dịch | Thực phẩm chức năng | Thuốc nhỏ mắt - Tai mũi họng | Thuốc điều trị bệnh gan | Thuốc điều trị bệnh cơ xương khớp | Thuốc có tác dụng thúc đẻ | Dung dịch thẩm phân phúc mạc | Thuốc cho đường hô hấp | Thuốc Giãn cơ và tăng trưởng lực cơDung dịch điều chỉnh nước điện giải   Thuốc có nguồn gốc Thảo dược    Dầu xoa - Cao xoa   Thuốc phụ khoa   Thiết bị chăm sóc sức khỏe   Thiết bị - Dụng cụ y tế   Thiết bị - Dụng cụ thể thao   Sách, tài liệu y khoa   phòng khám Nha khoa tại Hà Nội   phòng khám Nha khoa tại TP.HCM  Phòng khám nhi tại Hà Nội    Phòng khám nhi tại TP.HCM   Phòng khám đa khoa tại Hà Nội Phòng khám đa khoa tại TP.HCM   Phòng khám da liễu tại Hà Nội   Phòng khám da liễu tại TP.HCM   Phòng khám sản phụ khoa tại Hà Nội   Phòng khám sản phụ khoa tại TP.HCM   Phòng khám tai - mũi - họng tại Hà Nội   Phòng khám tai - mũi - họng tại tại TP.HCM   Bác sĩ tư cho gia đình tại Hà Nội  Bác sĩ tư cho gia đình tại TP.HCM   Thẩm mỹ viện - chỉnh hình tại Hà Nội   Thẩm mỹ viện - chỉnh hình tại TP.HCM    Bệnh viện tại Hà Nội  Bệnh viện tại TP.HCM   Hiệu thuốc tây tại Hà Nội   Hiệu thuốc tây tại TP.HCM   Hiệu thuốc tây tại Đà Nẵng   Hiệu thuốc tây tại Cần Thơ   Hiệu thuốc tây tại TP.Vũng Tàu  Hiệu thuốc tây tại Hải Phòng  Hiệu thuốc tây tại Nha Trang   Hiệu thuốc đông y tại Hà Nội  Hiệu thuốc đông y tại Tp.HCM   Lưu ý khi uống thuốc   Sử dụng thuốc kháng sinh   Sử dụng thuốc đặc trị   Sử dụng thuốc bổ  Giới thiệu nhà sản xuất dược phẩm   Tin y học - Công nghệ   Hồ sơ y học  Triển lãm – Hội thảo y học  Tương thân tương ái  nom sua  ca com  quan he vo chong  trieu chung ung thu vu    ung thu vu   viem amidan  nam linh chi  nam linh chi co tac dung gi  stress   benh mau trang   benh ung thu mau  diep ha chau giay dep  thuoc ngu thuy dau   Cao huyết áp


Thông tin trong trang tinsuckhoe.com chỉ có tính chất tham khảo. Cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi áp dụng
Ghi rõ nguồn "tinsuckhoe.com" hoặc "Cổng thông tin chăm sóc sức khỏe và y tế cộng đồng " khi bạn phát hành lại thông tin từ trang này.
Địa chỉ: 13 Ngõ 54 Phố Kim Ngưu - Quận Hai Bà Trưng - Hà Nội
Mọi thông tin góp ý, hợp tác xin liên hệ: tinsuckhoe@gmail.com - Mobile: 0982 750 284.
Xem tốt nhất với trình duyệt Mozilla Firefox 3.0 ++