• Bài thuốc chữa bệnh gút
  • Các loại thuốc chống gout
  • Bệnh gút và dùng thuốc
  • Thuốc mới trị bệnh gout
  • Allopurinol an toàn và hiệu quả trong điều trị bệnh gút
  • Triển vọng dùng Febuxostat trong việc điều trị gout
  • Một vài lưu ý khi dùng thuốc chữa bệnh Gout
  • Dùng thuốc và chế độ ăn cho người bị bệnh gút
  • Bệnh gút và điều trị gút trong đông y
  • BioBeam 940 điều trị các bệnh về khớp, gout
  • Allopurinol
  • Probenecid
  • Milurit
  • Novo-Purol
  • Prednison 5mg
  • Colchicine Houdé
  • Thuốc trị viêm đau trong cơn gút cấp
  • Tương ớt chữa tiểu đường và bệnh tim mạch
  • Những lưu ý khi sử dụng thuốc điều trị gout (Kỳ II)
  • Những lưu ý khi sử dụng thuốc điều trị gout (Kỳ I)

Thuốc trị viêm đau trong cơn gút cấp

Bệnh gút được phát hiện và mô tả ngay từ thời cổ Hy Lạp. Trước đây nó được biết đến là bệnh của các vua (Disease of kings). Ngày nay đời sống được nâng cao, việc lạm dụng trong ăn uống khá phổ biến nên bệnh gút không còn là chứng bệnh chỉ dành cho vua chúa hay các bậc quý tộc, quyền quý cao sang, mà bất cứ người nào cũng có thể mắc phải nếu như không biết kiềm chế và thiết lập cho mình một chế độ dinh dưỡng khoa học, hợp lý.

 Hình ảnh ngón chân cái bị sưng ở bệnh nhân gút.

Tuy nhiên bệnh gút phát sinh không hoàn toàn do chế độ ăn uống mà là sự kết hợp giữa rối loạn chuyển hóa purine và gen. Mới đây trên tạp chí Nature Genetic, Anh quốc đã công bố một tổ chức có tên MRC Hunman Genetics Unit ở thành phố Edinburgh do GS. Alan Wright chịu trách nhiệm hướng dẫn thực hiện công trình nghiên cứu này, họ đã phát hiện ra một gen có ký hiệu SLC2A trên 12.000 người cùng một mẫu thử nghiệm. Gen này có khả năng làm khó đào thải acid uric ra khỏi máu tại thận mà sinh ra bệnh gút. Nhưng dù sao thì chế độ ăn uống lạm dụng rượu, bia, thịt kết hợp sinh hoạt không điều độ... cũng góp phần quan trọng làm phát sinh bệnh gút.

Sử dụng thuốc colchicin

Đây là loại thuốc có tác dụng tạo ra chất ngăn cản sự vận chuyển các vật liệu bị thực bào đi đến các thể tiểu bào, ức chế sự thực bào của bạch cầu trung tính với tinh thể urat, do đó làm ngừng sự tạo thành acid lactic, giữ cho môi trường bình thường. Thuốc được sử dụng trong điều trị cơn gút cấp là chủ yếu hoặc phối hợp với allopurinol để dự phòng khởi phát đợt cấp của bệnh gút. Thuốc colchicin không làm đào thải acid uric, không tác dụng lên nồng độ, độ hòa tan và khả năng gắn vào protein huyết thanh của acid uric, nghĩa là không làm giảm được lượng acid tự do cao trong cơ thể, một nguyên nhân chính gây tủa urat. Thực chất thuốc colchicin không làm khỏi bệnh gút, mà chỉ dừng lại ở mức làm giảm viêm đau trong cơn gút cấp.

Trước khi làm giảm viêm, đau, colchicin có thể gây nôn, tiêu chảy. Khi thấy xuất hiện các tác dụng phụ này đồng thời cũng chứng tỏ rằng thuốc đã bắt đầu có hiệu lực, mặt khác cũng báo động cần điều chỉnh về mức vừa đủ. Cụ thể là thuốc sử dụng với liều giảm dần, dùng cho cơn cấp của bệnh gút: ngày thứ nhất uống 3 viên colchicin, ngày thứ 2 và thứ 3 mỗi ngày chỉ uống 2 viên vào lúc ăn sáng và tối. Ngày thứ 4 và những ngày kế tiếp uống vào bữa ăn tối 1 viên. Dự phòng cơn đau bữa ăn tối uống 1 viên. Ngoài ra, colchicin còn được sử dụng cho bệnh Behcet và những cơn đau cấp của các bệnh do vi tinh thể, tối uống trong bữa ăn 1 viên.

Ngoài việc chỉ định trong các trường hợp phòng và điều trị cơn đau gút cấp, thuốc còn được sử dụng uống trị cơn cấp khác do vi tinh thể như vôi hóa sụn khớp và thấp khớp do hydroxyapatit, bệnh Behcet.

Chống chỉ định trong các bệnh nhân có kèm suy gan hay suy thận nặng.

Tác dụng phụ của thuốc bao gồm: rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy, buồn nôn, nôn. Đôi khi bị dị ứng da như nổi mề đay, phát ban dạng sởi, suy giảm tủy xương, viêm thần kinh ngoại biên, rụng tóc, nhưng hiếm gặp khi thuốc được sử dụng đúng liều. Rất hiếm gặp các rối loạn huyết học, vô tinh trùng. Các trường hợp này nếu xảy ra sẽ phục hồi sau khi ngừng thuốc.

Cần thận trọng trong các điều trị dài hạn và phải theo dõi đều đặn công thức máu. Đối với người bệnh có suy gan, thận phải báo cho bác sĩ biết để quyết định có sử dụng được nữa hay không. Phụ nữ có thai hay đang cho con bú cũng phải lưu ý, nếu do yêu cầu bệnh lý cũng có thể tiếp tục điều trị cho đến cuối thai kỳ.

Thuốc có thể xảy ra tương tác với một số thuốc, nên cần báo với bác sĩ là đang uống thuốc gì, xem có cần dừng loại nào không.

Sử dụng thuốc kháng viêm không steroid

Để giải quyết được yêu cầu làm giảm đau, người ta sử dụng thuốc NSAID trong 5 – 7 ngày liền khi người bệnh bị viêm đau mà chưa sử dụng colchicin hoặc dùng phối hợp với loại thuốc dự phòng. Các NSAID thế hệ cũ ức chế COX-1, COX-2, còn thế hệ mới lại ức chế chọn lọc COX-2 và đều đạt hiệu quả như nhau. Tuy nhiên cũng tùy theo người bệnh mà chọn lựa sử dụng. Không sử dụng loại thế hệ cũ cho người bị đau dạ dày, song cũng không dùng loại thế hệ mới cho người mắc bệnh về tim mạch.

Sử dụng thuốc corticoid

Thuốc này chỉ sử dụng cho những người bị gút đa khớp mà khó điều trị bằng các phương pháp khác. Điều trị bằng tiêm hay cho uống corticoid. Nếu bệnh nặng có thể tiêm trực tiếp corticoid vào khớp. Tuy nhiên cũng chỉ tiêm trực tiếp vào khớp đau khi đã nắm chắc chắn không bị nhiễm khuẩn khớp hay tại vùng da tiêm không bị nhiễm khuẩn. Nếu không thực hiện nghiêm vấn đề này thì nguy cơ bị nhiễm khuẩn tại khớp, thậm chí còn có thể lan tỏa rộng ra hay nhiễm khuẩn toàn thân (nhiễm khuẩn huyết). Do vậy việc chỉ định tiêm trực tiếp vào khớp cần phải do thầy thuốc chuyên khoa chỉ định và các kỹ thuật viên có kinh nghiệm thực hiện. Bởi vì nếu không thạo giải phẫu, rất dễ tiêm không đúng vị trí sẽ dẫn tới chệch vào cơ, xương, mạch máu, dây thần kinh quanh khớp gây nên teo cơ, xốp xương, làm mất chức năng vận động khớp (nghĩa là khớp không vận động được). Cần giữ các khoảng cách giữa các lần tiêm vào khớp, nếu không làm đúng như vậy thì corticoid sẽ giữ nước và muối gây rối loạn chức năng thận. Nhưng cũng chỉ tiêm hay uống với liều tối thiểu có hiệu lực không quá 10 ngày.

(Theo BS. Hoàng Thanh Sơn // Báo Sức khỏe và Đời sống)



Copyright © 2009 - 2012   USS Corp . All rights reserved.

Chăm sóc sức khỏe | Phòng chữa bệnh | Phân loại bệnh quốc tế ICD | Bệnh tai mũi họng | Bệnh răng hàm mặt | Bệnh cơ xương khớp | Bệnh hô hấp | Bệnh tim mạch | Bệnh thận tiết niệu | Bệnh về gan | Bệnh hệ thần kinh | Bệnh ung thư | Bệnh cột sống | Bệnh đường tiêu hóa | Bệnh dạ dày | Bệnh nội tiết | Bệnh đái tháo đường | Bệnh trĩ | Bệnh mắt | Bệnh da liễu | Bệnh béo phì | Trị bệnh bằng trái cây | Lịch tiêm chủng | Chích ngừa | Sơ cứu – cấp cứu | Tủ thuốc gia đình | Sức khỏe người cao tuổi | Phụ nữ mang thai và em bé | Bà bầu | Thai nghén 9 tháng 10 ngày | Trẻ sơ sinh | Sức khỏe trẻ em | Sức khỏe phụ nữ | Sức khỏe nam giới | Sức khỏe giới tính | Chuyện phòng the | Rèn luyện sức khỏe | Làm đẹp | Sống vui khỏe | Dinh dưỡng cho trẻ em | Dinh dưỡng cho người già | Dinh dưỡng cho người cao tuổi | Dinh dưỡng | Thực đơn cho bé | Dinh dưỡng chữa bệnh | Ẩm thực | Món ngon | Món ngon quê nhà | Mẹo vặt | Tư vấn dinh dưỡng | Y học dân tộc | Từ điển y dược học | Bài thuốc dân gian | Đông y chữa bệnh | Hỏi đáp y học dân tộc | Cây thuốc vị thuốc | Danh y việt | Hỏi đáp Tư vấn sức khỏe | Tư vấn sử dụng thuốc | Sản phẩm y tế | Thuốc bổ và vitamin | Thuốc gây tê - gây mê | Thuốc Giảm đau - Hạ sốt  Chống viêm | Thuốc chống dị ứng | Thuốc Cấp cứu - Giải độc | Thuốc hướng tâm thần | Thuốc Chống nhiễm khuẩn Trị ký sinh trùng | Thuốc Điều trị đau nửa đầu | Thuốc chống ung thư | Thuốc điều trị bệnh Đái tháo đường tiết niệu | Thuốc trị Parkinson | Tác dụng cho máu | Máu - Dung dịch cao phân tử | Thuốc trị bệnh tim mạch | Thuốc điều trị bệnh da liễu | Thuốc Dùng chẩn đoán | Thuốc sát khuẩn | Thuốc lợi tiểu | Thuốc đường tiêu hóa | Hocmon - Nội tiết tố | Huyết thanh & Globulin miễn dịch | Thực phẩm chức năng | Thuốc nhỏ mắt - Tai mũi họng | Thuốc điều trị bệnh gan | Thuốc điều trị bệnh cơ xương khớp | Thuốc có tác dụng thúc đẻ | Dung dịch thẩm phân phúc mạc | Thuốc cho đường hô hấp | Thuốc Giãn cơ và tăng trưởng lực cơDung dịch điều chỉnh nước điện giải   Thuốc có nguồn gốc Thảo dược    Dầu xoa - Cao xoa   Thuốc phụ khoa   Thiết bị chăm sóc sức khỏe   Thiết bị - Dụng cụ y tế   Thiết bị - Dụng cụ thể thao   Sách, tài liệu y khoa   phòng khám Nha khoa tại Hà Nội   phòng khám Nha khoa tại TP.HCM  Phòng khám nhi tại Hà Nội    Phòng khám nhi tại TP.HCM   Phòng khám đa khoa tại Hà Nội Phòng khám đa khoa tại TP.HCM   Phòng khám da liễu tại Hà Nội   Phòng khám da liễu tại TP.HCM   Phòng khám sản phụ khoa tại Hà Nội   Phòng khám sản phụ khoa tại TP.HCM   Phòng khám tai - mũi - họng tại Hà Nội   Phòng khám tai - mũi - họng tại tại TP.HCM   Bác sĩ tư cho gia đình tại Hà Nội  Bác sĩ tư cho gia đình tại TP.HCM   Thẩm mỹ viện - chỉnh hình tại Hà Nội   Thẩm mỹ viện - chỉnh hình tại TP.HCM    Bệnh viện tại Hà Nội  Bệnh viện tại TP.HCM   Hiệu thuốc tây tại Hà Nội   Hiệu thuốc tây tại TP.HCM   Hiệu thuốc tây tại Đà Nẵng   Hiệu thuốc tây tại Cần Thơ   Hiệu thuốc tây tại TP.Vũng Tàu  Hiệu thuốc tây tại Hải Phòng  Hiệu thuốc tây tại Nha Trang   Hiệu thuốc đông y tại Hà Nội  Hiệu thuốc đông y tại Tp.HCM   Lưu ý khi uống thuốc   Sử dụng thuốc kháng sinh   Sử dụng thuốc đặc trị   Sử dụng thuốc bổ  Giới thiệu nhà sản xuất dược phẩm   Tin y học - Công nghệ   Hồ sơ y học  Triển lãm – Hội thảo y học  Tương thân tương ái  nom sua  ca com  quan he vo chong  trieu chung ung thu vu    ung thu vu   viem amidan  nam linh chi  nam linh chi co tac dung gi  stress   benh mau trang   benh ung thu mau  diep ha chau giay dep  thuoc ngu thuy dau   Cao huyết áp


Thông tin trong trang tinsuckhoe.com chỉ có tính chất tham khảo. Cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi áp dụng
Ghi rõ nguồn "tinsuckhoe.com" hoặc "Cổng thông tin chăm sóc sức khỏe và y tế cộng đồng " khi bạn phát hành lại thông tin từ trang này.
Địa chỉ: 13 Ngõ 54 Phố Kim Ngưu - Quận Hai Bà Trưng - Hà Nội
Mọi thông tin góp ý, hợp tác xin liên hệ: tinsuckhoe@gmail.com - Mobile: 0982 750 284.
Xem tốt nhất với trình duyệt Mozilla Firefox 3.0 ++