
Tại World Cup 2010 sắp diễn ra, cầu thủ của các đội bóng dự vòng chung kết tại Nam Phi sẽ hoạt động cật lực để mong chạm tay vào cúp vô địch. Cũng giống như bất cứ sự kiện thể thao trọng đại nào, bóng ma doping vẫn luôn lởn vởn, rình rập các cầu thủ và việc làm nó hiện nguyên hình là điều không dễ.
Doping có phải thuốc kích thích?
Khi một vận động viên thể thao sử dụng phương tiện, một chất nào đó để tăng lực và nâng cao thành tích thi đấu một cách bất hợp pháp, ta gọi là doping. Nhưng doping là gì thì cần có một định nghĩa chính xác mới mong có biện pháp hữu hiệu chống lại.
Do khoa học và công nghệ không ngừng phát triển, đặc biệt là ngành dược liên quan đến sản xuất thuốc men, định nghĩa phải làm sao dự trù cả những gì mà vận động viên có thể sử dụng trong tương lai chứ không phải chỉ giới hạn ở hiện tại.
Nếu theo định nghĩa đầu tiên được đưa ra trước đây khá lâu: “Doping là sử dụng những chất có nguồn gốc hoá học được tổng hợp, không thuộc các hợp chất thiên nhiên…” thì digitalin, thuốc trợ tim là hợp chất thiên nhiên được chiết xuất từ một loài thực vật được phép sử dụng (trong khi trên thực tế thuốc này bị cấm). Hoặc theo một định nghĩa khác đã được sử dụng: “Doping là sử dụng chất kích thích không có giá trị dinh dưỡng dùng cho mục đích nâng cao thành tích một cách giả tạo”, thì thiếu chính xác bởi không chỉ chất có tác dụng kích thích mà các chất có tác dụng trấn an, thuốc lợi tiểu cũng bị cấm. Vậy ta đừng lầm cứ nói đến doping là chỉ nghĩ đến thuốc kích thích. Năm 1963, hội nghị lần đầu tiên của các nước châu Âu bàn về doping đã chấp nhận định nghĩa như sau: “Doping là sử dụng chất hoặc phương tiện nào đó nhằm mục đích nâng cao một cách giả tạo thành tích trong thi đấu, mà việc này làm ảnh hưởng nền đạo đức thể thao và làm tổn hại sự toàn vẹn thể chất và tinh thần vận động viên”.
Dễ sụp bẫy danh sách cấm
Hiện nay, danh sách các chất cấm dùng trong thi đấu thể thao rất dài, khoảng 100 chất, có thể chia thành các nhóm:
Nhóm các chất kích thích hệ thần kinh trung ương: nhóm này có rất nhiều chất, từ gây nghiện đến thành phần trong các dược phẩm trị cảm cúm thông thường. Có thể kể: amphetamin (thuốc thuộc nhóm kích thích hệ thần kinh trung ương được dùng như ma tuý, “thuốc lắc” hay ecstasy được dùng hiện nay chính là một dẫn chất amphetamin), strychnin, cocain, ephedrin, niketamid, phentermin, phenylpropanolamin, cafein… các chất này nói chung có tác dụng kích thích, làm mất cảm giác mệt nhọc, tăng phản xạ tuỷ, tăng hoạt động cơ. Tác hại của chúng là sau giai đoạn hưng phấn kích thích, thường tiếp theo giai đoạn ức chế, gây mệt mỏi nhiều hơn. Đặc biệt người sử dụng không cảm thấy dấu hiệu kiệt sức nghiêm trọng nhưng lại dễ bị ngộ độc và tử vong. Riêng cafein là chất có trong trà, càphê, hàm lượng cho phép khi xét nghiệm nước tiểu vận động viên là 12 microgram/ml, nếu vượt thì xem như có doping.
Nhóm các chất giãn mạch, hạ huyết áp và trợ tim: gồm các thuốc như chẹn bêta (acebutolol, atenolol, metoprolol, propranolol, sotalol…thường dùng trị bệnh tăng huyết áp), digitalin (trợ tim), trinitrin (dãn mạch vành)… Các thuốc này được dùng nhằm cải thiện tình trạng tim mạch khi thi đấu quá quyết liệt.
“Các vận động viên chân chính luôn luôn biết rằng khi thi đấu mà xét nghiệm dương tính với chất doping thì không cách gì chối cãi” |
Nhóm các thuốc nội tiết tố steroid tăng biến dưỡng: đây là một dẫn chất của nội tiết sinh dục nam testosteron như nandrolon, norethandrolon… có tác dụng gia tăng sự đồng hoá chất đạm, làm tăng thể tích và sức mạnh cơ bắp.
Nhóm thuốc giảm đau gây nghiện: đây là các thuốc có nguồn gốc ma tuý như morphin, methadon, pethidin, codein, dextropropoxyphen… Là các thuốc dùng trị bệnh nhưng thi đấu thể thao không có nghĩa là bị bệnh, vì vậy, nếu xét nghiệm nước tiểu vận động viên thấy có các chất thuộc nhóm này thì không chỉ quy là doping mà còn đồng nghĩa với sử dụng ma tuý.
Nhóm thuốc lợi tiểu: gồm có furosemid, hydroclorothiazid, spironolacton, amilorid, triamteren, clortalidon… Các thuốc này cũng giúp vận động viên cải thiện tình trạng tim mạch do thải một lượng nước đáng kể ra khỏi cơ thể, nhưng lại bất hợp pháp nếu dùng trong khi thi đấu.
EPO: trong giai đoạn chuẩn bị Olympic Sydney 2000, các nhà khoa học bàn nhiều đến hoạt chất erythropoietin (còn gọi tắt là EPOETIN hay EPO). Đây là chất mới được các vận động viên dùng doping và điều quan trọng là phải nhanh chóng tìm ra phương pháp xét nghiệm hữu hiệu để phát hiện có sử dụng chất này hay không. Thực chất EPO là một nội tiết (hormon) do thận tiết ra có bản chất là một glycoprotein. Tác dụng của EPO là kích thích cơ thể sinh ra đủ hồng cầu đảm nhận tốt việc hô hấp. Hiện nay, nhờ đã phát hiện và xác định được gen tổng hợp EPO, đặc biệt nhờ kỹ thuật tái tổ hợp dùng trong công nghệ sinh học mà người ta đã sản xuất EPO dùng trong trị liệu một số bệnh thiếu máu. EPO được dùng ở dạng thuốc tiêm (tiêm tĩnh mạch hoặc dưới da). Trong thi đấu thể thao, khi hoạt động cơ bắp cật lực để đạt thành tích, vận động viên rất cần oxy, và trong hô hấp càng thu nhận oxy nhiều chừng nào thì tốt chừng nấy. Và như vậy, vận động viên có thể dùng doping bằng cách dùng EPO để tăng lượng hồng cầu trong máu, tức là tìm cách có lượng oxy nhiều cho hoạt động cơ bắp một cách bất hợp pháp.
Các vận động viên chân chính luôn luôn biết rằng khi thi đấu mà xét nghiệm dương tính với chất doping thì không cách gì chối cãi bởi họ có nhiệm vụ biết rõ thuốc nào bị nghiêm cấm. Họ không thể dính vào doping vì phải thuộc nằm lòng: “Thi đấu thể thao đồng nghĩa với rèn luyện nhân cách và đạo đức”.
Luỵ doping, trả giá đắt – Trên đường đua xe đạp Olympic Roma 1960, một vận động viên đã sử dụng amphetamin, khi gần đến đích đã ngã quỵ, sau đó chết trong bệnh viện do sốt cao, truỵ tim mạch. – Ở Olympic Seoul 1988, Ben Johnson đã bị huỷ bỏ thành tích chạy 100 mét với 9 giây 79 và bị phạt rất nặng do đã doping bằng thuốc thuộc nhóm các thuốc nội tiết tố steroid tăng biến dưỡng. – Maradona trong World Cup 1994, xét nghiệm nước tiểu có ephedrin, phenylpropanolamin (thường có trong thuốc trị cảm – sổ mũi) và ba chất nữa cũng là dẫn chất của ephedrin thuộc danh sách cấm nên Maradona đã bị cấm thi đấu. |
(Theo PGS.TS.DS Nguyễn Hữu Đức // SGTT Online)
Copyright © 2009 - 2012 USS Corp . All rights reserved.
Thông tin trong trang tinsuckhoe.com chỉ có tính chất tham khảo. Cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi áp dụng
Ghi rõ nguồn "tinsuckhoe.com" hoặc "Cổng thông tin chăm sóc sức khỏe và y tế cộng đồng " khi bạn phát hành lại thông tin từ trang này.
Địa chỉ: 13 Ngõ 54 Phố Kim Ngưu - Quận Hai Bà Trưng - Hà Nội
Mọi thông tin góp ý, hợp tác xin liên hệ: tinsuckhoe@gmail.com - Mobile: 0982 750 284.
Xem tốt nhất với trình duyệt Mozilla Firefox 3.0 ++