Trong thập niên vừa, y học đã có những tiến bộ vượt bậc trong điều trị ung thư, cụ thể là liệu pháp điều trị đích và hiệu quả của nó đã mang lại nhiều hy vọng cho các bệnh nhân ung thư.
Theo Phòng thí nghiệm NK-BIOTEK của TS.BS Phạm Hùng Vân, giảng viên môn vi sinh, Đại học Y dược TP.HCM: Ung thư là một bệnh lý do sự tăng sinh phát triển không tổ chức và không kiểm soát được của một mô nào đó trong một cơ quan. Hậu quả của ung thư sẽ là sự phát triển của một hay nhiều khối u trong cơ quan và các tế bào ung thư có thể theo dòng máu hay bạch huyết di căn đến các nơi khác, cơ quan khác xa hơn. Bệnh nhân mắc ung thư có dự hậu tử vong do cơ thể suy kiệt vì sự chèn ép của khối u ung thư vào các cơ quan chức năng khác, hay do tình trạng nhiễm trùng, chảy máu vì các khối u ung thư lở loét vào bên trong hoặc ra bên ngoài cơ thể.
Một số phương pháp kinh điển
Y học đã có một số giải pháp kinh điển dùng để điều trị ung thư như:
Phẫu thuật cắt bỏ khối u: Giải pháp này chỉ có hiệu quả triệt để khi phát hiện được khối u ung thư ở giai đoạn rất sớm, rất nhỏ và chưa có di căn. Điều này không phải dễ dàng vì lúc khối u còn nhỏ bệnh nhân thường không cảm thấy triệu chứng bất thường để đi khám, khi phát hiện thì đã quá trễ, có thể đã di căn. Chính vì vậy, ngày nay y học đã có các thử nghiệm sàng lọc phát hiện các dấu ấn sinh học chỉ điểm ung thư một cơ quan nào đó, hay phát hiện các bất thường nhỏ qua các xét nghiệm sinh hóa (như tìm máu trong phân để tầm soát ung thư ruột, hay làm phết nhuộm tế bào cổ tử cung để tầm soát sớm ung thư cổ tử cung...). Một khi thử nghiệm sàng lọc dương tính thì lâm sàng sẽ sử dụng các biện pháp chẩn đoán hình ảnh độ nhạy cao như MRI, CT, PET CT... để phát hiện sớm được vị trí khối u mà phẫu thuật tiến hành cắt bỏ.
Xạ trị: Là biện pháp sử dụng tia phóng xạ để phá hủy các tế bào ung thư còn sót lại sau phẫu thuật hay là biện pháp để điều trị các ung thư đã quá trễ mà phẫu thuật không thể tiến hành. Tuy nhiên, xạ trị không thể điều trị triệt để hoàn toàn ung thư vì ung thư bị tái phát do xuất hiện những tế bào ung thư kháng lại xạ trị, cũng như đa số các trường hợp có chỉ định xạ trị là trên các bệnh nhân ung thư trong giai đoạn trễ. Lý do xạ trị không thể điều trị triệt để ung thư là vì khi áp dụng xạ trị thì cả mô lành tính lẫn mô ung thư đều bị tác động của xạ trị, do vậy không thể xạ trị với liều tối đa và chính điều này đã trở thành yếu tố giúp tế bào ung thư kháng được xạ trị và thậm chí còn có thể làm cho tế bào lành bị ung thư hóa. Hiện nay cũng có một số tiến bộ trong xạ trị là sử dụng chẩn đoán hình ảnh độ nhạy cao để vừa phát hiện vị trí khối u, vừa điều khiển tia xạ đến trúng đích để phá hủy khối u ung thư.
Hóa trị: Là biện pháp sử dụng các chất hóa học để giết chết tế bào ung thư qua ngăn cản sự nhân đôi của tế bào, hay qua các cơ chế khác với kết quả cuối cùng là tế bào ung thư sẽ không tăng trưởng được nữa. Hóa chất điều trị ung thư được sử dụng phối hợp với xạ trị, hay phối hợp với phẫu thuật, hoặc với cả phẫu thuật và xạ trị, hay chỉ sử dụng một mình khi ung thư không thể phẫu thuật hay kháng xạ trị. Thế nhưng hóa chất không thể điều trị được triệt để ung thư vì đây là con dao hai lưỡi, giết chết tế bào ung thư thì cũng giết chết tế bào không ung thư, do vậy mà người đang điều trị hóa chất sẽ phải chịu hậu quả phụ trên nhiều cơ quan, đặc biệt các cơ quan tạo máu, da, tóc. Vì thế, trị liệu hóa chất luôn bị tái phát kháng trị.
Ngoài ra, cũng có nhiều hướng nghiên cứu áp dụng các miễn dịch tế bào (như tế bào dendritic), miễn dịch thể dịch không đặc hiệu (như interferon) để điều trị ung thư. Tuy nhiên các biện pháp này vẫn còn trong phạm vi nghiên cứu, chưa đưa ra áp dụng vì còn nhiều vấn đề về lý thuyết lẫn kỹ thuật phải giải quyết.
Điều trị đích: bước tiến mới nhiều hy vọng
Cũng theo TS.BS Phạm Hùng Vân, trong thập niên vừa qua, nhờ các tiến bộ về hiểu biết các thụ thể bề mặt của tế bào cũng như các thông tin bên trong tế bào và giữa các tế bào mà y học đã có những tiến bộ vượt bậc trong điều trị ung thư. Cụ thể là đã có nhiều dược phẩm không phải là hóa chất mà có bản chất là protein tác động trên các đích tế bào ung thư.
Liệu pháp sử dụng các dược phẩm tác động đích này được gọi là liệu pháp điều trị đích và hiệu quả điều trị đã mang lại nhiều hy vọng cho các bệnh nhân ung thư vì khả năng kéo dài tuổi thọ, thậm chí chữa lành hẳn ung thư đã được ghi nhận.
Tuy nhiên, khác với hóa trị là không cần phải chọn lựa bệnh nhân, liệu pháp điều trị đích cần phải có xét nghiệm xác định bệnh nhân có nhạy cảm với liệu pháp điều trị đích mà bác sĩ muốn áp dụng hay không? Đây chính là xét nghiệm dược di truyền (pharmaco-genetic testing) hay còn gọi là xét nghiệm cá nhân hóa điều trị đích (personalized treatment). Bản chất của các xét nghiệm này là xem xét trên gene đích của người bị ung thư có mang các đột biến nhạy cảm với điều trị đích hay không hoặc có mang các thụ thể đặc hiệu cho điều trị đích không.
Đây là một xét nghiệm hết sức quan trọng giúp bệnh nhân cũng như bác sĩ có được các thành quả của điều trị đích. Nếu bệnh nhân không có các đột biến nhạy cảm với điều trị đích hay có các thụ thể cho điều trị đích, họ sẽ không phải mất tiền cho một liệu pháp không có lợi. Tại các nước tiên tiến thì liệu pháp điều trị đích hiện được sử dụng khá phổ biến để điều trị nhiều loại ung thư khác nhau nhờ có nhiều dược phẩm điều trị đích được chấp thuận và thông qua, đồng thời xét nghiệm cá nhân hóa điều trị đích cũng được triển khai trong chẩn đoán. Ngoài ra, để có thể theo dõi được hiệu quả điều trị đích thì việc triển khai các xét nghiệm theo dõi hiệu quả điều trị cũng như phát hiện tái phát cũng rất cần thiết.
Tại Việt Nam, hiện đã có một số dược phẩm điều trị đích đang được lưu hành, tuy nhiên xét nghiệm cá nhân hóa cũng như theo dõi hiệu quả điều trị đích vẫn còn chưa được biết đến nhiều, chính vì vậy, đã hạn chế phần nào việc chỉ định liệu pháp điều trị đích trên bệnh nhân.
Trước thực tế này, Công ty Nam Khoa và phòng thí nghiệm NK-BIOTEK đã tiến hành đầu tư trang thiết bị hiện đại như máy real-time PCR CFX96, thiết bị giải trình tự gene ABI 3130XL và triển khai một số xét nghiệm cá nhân hóa, theo dõi điều trị đích đầu tiên. Hy vọng các xét nghiệm này sẽ được các nhà lâm sàng dần biết đến để sử dụng. Đây chính là con đường mới cho việc áp dụng sinh học phân tử hiện đại trong y học tại Việt Nam.