Thuốc trị bệnh xơ cứng bì

Các thuốc điều trị hội chứng Raynaud

Có thể dùng một số thuốc giãn mạch nhóm chẹn kênh calci, thuốc giãn mạch trực tiếp và gián tiếp khác, thuốc ức chế giao cảm, thuốc đồng phân của prostaglandin... Hiện thuốc chẹn kênh calci được coi là lựa chọn hàng đầu trong điều trị hội chứng Raynaud, trong đó có thuốc được sử dụng rộng rãi trên lâm sàng là nifedipin. Nếu nifedipin không dung nạp được thì có thể dùng một số thuốc khác trong nhóm chẹn kênh calci như amlodipin, diltiazem. Các thuốc giãn mạch khác ngoài nhóm chẹn kênh calci có thể sử dụng bao gồm thuốc giãn mạch trực tiếp như nitroglycerin, nitroprussid, hydralazin, papaverin... hoặc thuốc giãn mạch gián tiếp như ketanserin (thuộc nhóm đối kháng serotonin chọn lọc), fluoxetin (ức chế tái hấp thu serotonin), captopril (nhóm ức chế men chuyển), hoặc sindenafil (thuốc ức chế phosphodiesterase).

Xơ cứng bì do hội chứng Raynaud.

Tuy nhiên, nhìn chung các thuốc trên không dùng đơn độc để điều trị hội chứng Raynaud - đặc biệt trong thể nặng mà thường dùng phối hợp với thuốc chẹn kênh calci do tác dụng cũng như tính dung nạp của thuốc nhóm chẹn kênh calci tốt hơn. Hiện nay có một số thuốc được nghiên cứu sử dụng điều trị trong tăng áp động mạch phổi nhưng lại có hiệu quả trong điều trị hội chứng Raynaud là bosetan. Bosetan là thuốc đối kháng thụ thể nội mô không chọn lọc (nonselective endothelin receptor antagonist) vừa có tác dụng trong điều trị tăng áp động mạch phổi, lại vừa có tác dụng giảm thiếu máu ở chi, qua đó ngăn cản tình trạng loét, hoại tử ngón. Các thuốc nhóm đối kháng giao cảm cũng được sử dụng trong điều trị hội chứng Raynaud do cơ chế đối kháng với các thụ thể thần kinh giao cảm, đặc biệt là các thụ thể alpha 2 có nhiều ở mạch ngoại biên, do đó gây giãn mạch ngoại biên. Thuốc hay dùng là prazosin, reserpin, methyldopa... Nhìn chung các thuốc này có tác dụng trong đợt cấp, nhưng tác dụng điều trị giảm dần theo thời gian và có nhiều tác dụng phụ như gây hạ huyết áp tư thế đứng, mạch nhanh... Một số thuốc đồng phân prostagladin cũng được dùng do tác dụng giãn mạch, ức chế ngưng tập tiểu cầu. Các thuốc chủ yếu hiện dùng thuộc nhóm này như prostaglandin E1. Hoặc iloprost là thuốc đồng phân tổng hợp của prostacyclin. Các chế phẩm đường uống của prostaglandin E1 (misoprostol) hay dạng uống iloprost  cũng được sử dụng nhưng dường như ít có hiệu quả trong điều trị hội chứng Raynaud.  

Một số điều trị khác cần xem xét sử dụng ở bệnh nhân xơ cứng bì có hội chứng Raynaud

Thuốc chống ngưng tập tiểu cầu aspirin phòng tắc mạch. Chú ý cần thận trọng khi dùng aspirin với thuốc nhóm đồng phân của prostagladin do bản thân aspirin lại ức chế prostaglandin, do đó làm giảm tác dụng của thuốc. Thuốc chống đông heparin hoặc thuốc tiêu sợi huyết như urokinase có thể sử dụng trong trường hợp có tắc mạch ở đầu chi. Một số trường hợp nặng có hoại tử nhiều ở chi hoặc không đáp ứng với thuốc có thể dùng biện pháp phóng bế tại chỗ đám rối hạch giao cảm bằng lidocain hoặc bupivacain hoặc phẫu thuật cắt bỏ hạch giao cảm cổ (khi có tổn thương ở ngón tay) hay cắt bỏ hạch giao cảm vùng lưng (khi có tổn thương ở ngón chân). Nếu có hoại thư nhiều có thể cắt lọc tại chỗ, thậm chí cắt bỏ đầu chi tổn thương.

Các tổn thương hệ tim mạch trực tiếp trong xơ cứng bì bao gồm viêm màng ngoài tim, tràn dịch màng tim, viêm cơ tim, xơ cơ tim, bệnh động mạch vành và các loạn nhịp tim. Nhìn chung có thể điều trị bằng các thuốc không steroid, corticoid cũng như các biện pháp điều trị triệu chứng.

Tổn thương thận: Phát hiện sớm các tổn thương mạch thận đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn chức năng thận. Theo dõi huyết áp, mức lọc cầu thận, protein niệu thường xuyên. Thận trọng khi dùng corticoid liều cao trên 40mg prednisolon/ ngày vì có thể gây suy thận tiến triển. Do đa số bệnh nhân có tăng renin nên các thuốc ức chế men chuyển là lựa chọn hàng đầu. Các thuốc captopril, enalaprin... có tác dụng tốt trong tăng huyết áp, đợt tổn thương thận cấp, tăng áp lực động mạch phổi, suy tim. Trường hợp chưa đạt được huyết áp mục tiêu có thể phối hợp với thuốc chẹn kênh calci. Nếu không dung nạp với ức chế men chuyển (bệnh nhân ho) có thể dùng thuốc ức chế thụ thể angiotensin để thay thế. Thận nhân tạo có thể chỉ định trong trường hợp tổn thương thận tiến triển, suy thận cấp.

Tổn thương hệ hô hấp: Hay gặp nhất là hai thể viêm phế nang hay viêm phổi kẽ (có thể dẫn đến xơ phổi kẽ) và tổn thương mạch phổi dẫn đến tăng áp lực động mạch phổi, hoặc phối hợp cả hai thể trên. Điều trị tổn thương viêm phế nang - viêm phổi kẽ thường phối hợp glucocorticoid với một thuốc ức chế miễn dịch như cyclophosphamid truyền tĩnh mạch hay uống, hoặc azathioprin hoặc mycophenolat mophetil. Khi bệnh nhân đã bị xơ phổi kẽ là tổn thương không hồi phục thì điều trị chủ yếu là triệu chứng và điều trị biến chứng như thở ôxy nồng độ thấp ngắt quãng hay liên tục, xem xét ghép phổi khi có điều kiện; dùng kháng sinh điều trị khi có bội nhiễm. Trường hợp tăng áp lực động mạch phổi có thể điều trị bằng thuốc đối kháng thụ thể nội mô như bosetan, thuốc đồng phân của prostacyclin như iloprost, thuốc ức chế phosphodiesterase-5 như sildenafil hay thuốc chẹn kênh calci. Điều trị triệu chứng suy tim do bệnh phổi.

Đối với triệu chứng tiêu hoá: Thường gặp triệu chứng trào ngược thực quản. Cần hướng dẫn bệnh nhân chia nhiều bữa nhỏ; dùng thuốc chống acid như ranitidin, omeprasol uống vào giữa các bữa ăn. Không nằm trong vài giờ sau khi ăn, tránh dùng cafe, chè, sôcôla vì các chất này gây giảm cơ lực cơ trơn thực quản. Khi có triệu chứng nuốt khó cần nhai kỹ thức ăn, thức ăn nên mềm kèm nhiều nước. Hội chứng kém hấp thu thường do giảm vận động tá tràng và do vi khuẩn, do đó có thể dùng kháng sinh nhóm cyclin hoặc macrolid theo đợt. Trường hợp có táo bón cần khuyên bệnh nhân ăn thức ăn mềm, uống nhiều nước, dùng các thuốc nhuận tràng.

Điều trị triệu chứng cơ xương khớp: Viêm cơ thường đáp ứng với corticoid đơn độc hoặc phối hợp với methotrexat, azathioprin. Chú ý khi dùng liều corticoid tương đương 40mg prednisolon/ngày trở nên làm tăng nguy cơ suy thận tiến triển do đó cần theo dõi chặt chẽ huyết áp, creatinin và protein niệu. Trường hợp đau khớp hay viêm khớp có thể dùng acetaminnophen hoặc thuốc chống viêm không steroid như aspirin, diclofenac, hoặc dùng corticoid liều thấp là có thể kiểm soát tốt triệu chứng. Phối hợp điều trị vật lý trị liệu, phục hồi chức năng, tiêm corticoid tại khớp, ghép khớp giả đối với các khớp bị huỷ hoại nhiều.

Tóm lại, hiện nay điều trị bệnh xơ cứng bì còn gặp nhiều khó khăn do tổn thương đa dạng, thường là xơ hóa nên đáp ứng với điều trị kém, thiếu những thuốc đặc hiệu. Tiên lượng bệnh phụ thuộc mức độ tổn thương nội tạng, đặc biệt là tổn thương của tim, phổi và thận. Hầu hết các trường hợp tử vong xảy ra do suy thận, suy tim hay suy hô hấp.

(Theo ThS. Bùi Hải Bình // Suckhoe & Ðoisong)

  • Một số bệnh về da trong mùa nóng
  • Viêm da tiếp xúc côn trùng và thuốc trị
  • Cách khắc phục vết bầm da
  • Điều trị bệnh viêm đa cơ - viêm da cơ
  • 3 cách tự nhiên chống ngứa da
  • Nước ngập, coi chừng bệnh ngoài da
  • Bệnh ghẻ và thuốc chữa
  • Vì sao bị viêm da dị ứng?
  • Có nên phá nốt ruồi?
  • Làm gì khi bị... ngứa?
  • Mụn rộp ở môi: Dùng thuốc gì?
  • Lupus ban đỏ hệ thống: Thuốc và cách dùng
  • Bệnh zona và thuốc trị
  • Một số bệnh về da do thiếu chất
  • Mẹo kiểm soát đổ mồ hôi tay chân
  • Điều trị chứng đổ mồ hôi tay bằng kỹ thuật mới
  • Vỡ mộng xoá sạch sẹo lồi
  • Bệnh xơ cứng bì và thuốc trị
  • Điều trị và phòng ngừa mụn cóc, hạt cơm
  • Bệnh thủy đậu

Chăm sóc sức khỏe | Phòng chữa bệnh | Phân loại bệnh quốc tế ICD | Bệnh tai mũi họng | Bệnh răng hàm mặt | Bệnh cơ xương khớp | Bệnh hô hấp | Bệnh tim mạch | Bệnh thận tiết niệu | Bệnh về gan | Bệnh hệ thần kinh | Bệnh ung thư | Bệnh cột sống | Bệnh đường tiêu hóa | Bệnh dạ dày | Bệnh nội tiết | Bệnh đái tháo đường | Bệnh trĩ | Bệnh mắt | Bệnh da liễu | Bệnh béo phì | Trị bệnh bằng trái cây | Lịch tiêm chủng | Chích ngừa | Sơ cứu – cấp cứu | Tủ thuốc gia đình | Sức khỏe người cao tuổi | Phụ nữ mang thai và em bé | Bà bầu | Thai nghén 9 tháng 10 ngày | Trẻ sơ sinh | Sức khỏe trẻ em | Sức khỏe phụ nữ | Sức khỏe nam giới | Sức khỏe giới tính | Chuyện phòng the | Rèn luyện sức khỏe | Làm đẹp | Sống vui khỏe | Dinh dưỡng cho trẻ em | Dinh dưỡng cho người già | Dinh dưỡng cho người cao tuổi | Dinh dưỡng | Thực đơn cho bé | Dinh dưỡng chữa bệnh | Ẩm thực | Món ngon | Món ngon quê nhà | Mẹo vặt | Tư vấn dinh dưỡng | Y học dân tộc | Từ điển y dược học | Bài thuốc dân gian | Đông y chữa bệnh | Hỏi đáp y học dân tộc | Cây thuốc vị thuốc | Danh y việt | Hỏi đáp Tư vấn sức khỏe | Tư vấn sử dụng thuốc | Sản phẩm y tế | Thuốc bổ và vitamin | Thuốc gây tê - gây mê | Thuốc Giảm đau - Hạ sốt  Chống viêm | Thuốc chống dị ứng | Thuốc Cấp cứu - Giải độc | Thuốc hướng tâm thần | Thuốc Chống nhiễm khuẩn Trị ký sinh trùng | Thuốc Điều trị đau nửa đầu | Thuốc chống ung thư | Thuốc điều trị bệnh Đái tháo đường tiết niệu | Thuốc trị Parkinson | Tác dụng cho máu | Máu - Dung dịch cao phân tử | Thuốc trị bệnh tim mạch | Thuốc điều trị bệnh da liễu | Thuốc Dùng chẩn đoán | Thuốc sát khuẩn | Thuốc lợi tiểu | Thuốc đường tiêu hóa | Hocmon - Nội tiết tố | Huyết thanh & Globulin miễn dịch | Thực phẩm chức năng | Thuốc nhỏ mắt - Tai mũi họng | Thuốc điều trị bệnh gan | Thuốc điều trị bệnh cơ xương khớp | Thuốc có tác dụng thúc đẻ | Dung dịch thẩm phân phúc mạc | Thuốc cho đường hô hấp | Thuốc Giãn cơ và tăng trưởng lực cơDung dịch điều chỉnh nước điện giải   Thuốc có nguồn gốc Thảo dược    Dầu xoa - Cao xoa   Thuốc phụ khoa   Thiết bị chăm sóc sức khỏe   Thiết bị - Dụng cụ y tế   Thiết bị - Dụng cụ thể thao   Sách, tài liệu y khoa   phòng khám Nha khoa tại Hà Nội   phòng khám Nha khoa tại TP.HCM  Phòng khám nhi tại Hà Nội    Phòng khám nhi tại TP.HCM   Phòng khám đa khoa tại Hà Nội Phòng khám đa khoa tại TP.HCM   Phòng khám da liễu tại Hà Nội   Phòng khám da liễu tại TP.HCM   Phòng khám sản phụ khoa tại Hà Nội   Phòng khám sản phụ khoa tại TP.HCM   Phòng khám tai - mũi - họng tại Hà Nội   Phòng khám tai - mũi - họng tại tại TP.HCM   Bác sĩ tư cho gia đình tại Hà Nội  Bác sĩ tư cho gia đình tại TP.HCM   Thẩm mỹ viện - chỉnh hình tại Hà Nội   Thẩm mỹ viện - chỉnh hình tại TP.HCM    Bệnh viện tại Hà Nội  Bệnh viện tại TP.HCM   Hiệu thuốc tây tại Hà Nội   Hiệu thuốc tây tại TP.HCM   Hiệu thuốc tây tại Đà Nẵng   Hiệu thuốc tây tại Cần Thơ   Hiệu thuốc tây tại TP.Vũng Tàu  Hiệu thuốc tây tại Hải Phòng  Hiệu thuốc tây tại Nha Trang   Hiệu thuốc đông y tại Hà Nội  Hiệu thuốc đông y tại Tp.HCM   Lưu ý khi uống thuốc   Sử dụng thuốc kháng sinh   Sử dụng thuốc đặc trị   Sử dụng thuốc bổ  Giới thiệu nhà sản xuất dược phẩm   Tin y học - Công nghệ   Hồ sơ y học  Triển lãm – Hội thảo y học  Tương thân tương ái  nom sua  ca com  quan he vo chong  trieu chung ung thu vu    ung thu vu   viem amidan  nam linh chi  nam linh chi co tac dung gi  stress   benh mau trang   benh ung thu mau  diep ha chau giay dep  thuoc ngu thuy dau | Thiết bị định vị | Bán ống nhòm | Máy bộ đàm | Ống nhòm đêm | May bo dam | Tài chính | Thương mại | Thị trường | Giá vàng hôm nay | Cao huyết áp

Copyright © 2009 - 2012   USS Corp . All rights reserved.
Thông tin trong trang tinsuckhoe.com chỉ có tính chất tham khảo. Cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi áp dụng
Ghi rõ nguồn "tinsuckhoe.com" hoặc "Cổng thông tin chăm sóc sức khỏe và y tế cộng đồng " khi bạn phát hành lại thông tin từ trang này.
Địa chỉ: 13 Ngõ 54 Phố Kim Ngưu - Quận Hai Bà Trưng - Hà Nội
Mọi thông tin góp ý, hợp tác xin liên hệ: tinsuckhoe@gmail.com - Mobile: 0982 750 284.
Xem tốt nhất với trình duyệt Mozilla Firefox 3.0 ++