Bệnh xơ cứng bì và thuốc trị

Xơ cứng bì toàn thể là một bệnh tự miễn dịch, đặc trưng bởi tình trạng xơ hoá da và mô dưới da do tổn thương chủ yếu là chất cơ bản của thành phần tạo keo ở da. Bệnh thường gặp ở nữ (80%), lứa tuổi 30-50. Bệnh có tổn thương ở nhiều cơ quan, đặc biệt ở da, mạch máu (trong đó hay gặp hội chứng Raynaud) và nội tạng: chủ yếu là thực quản, phổi, tim và thận. Chẩn đoán bệnh theo Hội thấp khớp học Mỹ (ACR) năm 1980 bao gồm: tiêu chuẩn chính là xơ da vùng gần; tiêu chuẩn phụ gồm có xơ da đầu chi, sẹo hoặc vết loét ở đầu ngón tay, xơ phổi ở vùng đáy. Chẩn đoán xác định khi có tiêu chuẩn chính, hoặc có 2 tiêu chuẩn phụ.

Về điều trị bệnh

Biểu hiện của bệnh xơ cứng bì. - tinsuckhoe.com
Biểu hiện của bệnh xơ cứng bì.

Cho tới nay chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu chữa khỏi bệnh, quan trọng là chẩn đoán sớm, điều trị kịp thời nhằm ngăn chặn tốc độ tiến triển của bệnh, duy trì các chức năng cho bệnh nhân. Tùy vào tổn thương ở những cơ quan nào mà có những điều trị cụ thể, bao gồm điều trị các tổn thương ở da, mạch, thận, hô hấp, tiêu hóa, cơ xương khớp và tim mạch.

Đối với tổn thương ở da trong thể xơ cứng bì khu trú thành một hoặc nhiều đám, mảng nhỏ hoặc thành những dải xơ cứng da rải rác ở thân mình hoặc ở chi: điều trị làm mềm da bằng liệu pháp tia cực tím, hoặc dùng corticoid bôi tại chỗ, calcipotriol hay methotrexat. Một lựa chọn điều trị khác là phối hợp giữa corticoid toàn thân liều cao với methotraxate liều thấp. Để ngăn cản và điều trị chứng dầy da có thể dùng thalidomide hoặc kháng thể đơn dòng kháng yếu tố TGF (transforming growth factor) beta-1.

Trường hợp xơ cứng bì toàn thể có nhiều thuốc được sử dụng điều trị triệu chứng xơ cứng, dày da ở bệnh nhân xơ cứng bì như D-penicillamin, colchicin, mycophenonat mophetil, interferon gamma, cyclophosphamid... nhưng thực sự chưa có thuốc nào được Cơ quan quản lý  thuốc và thực phẩm Hoa Kỳ FDA - một tổ chức có uy tín thường đưa ra những khuyến cáo về sức khỏe dựa trên bằng chứng y học, khuyến nghị. Trong số trên có D-penicillamin là thuốc được nghiên cứu và sử dụng nhiều nhất, tuy nhiên hiệu quả chưa cao và không ổn định. D- penicillamin có thể làm giảm độ dày của da và phòng ngừa các tổn thương nội tạng. Liều dùng bắt đầu bằng liều thấp trong 2-3 tháng sau đó tăng dần. Nếu đạt hiệu quả, không còn các biểu hiện ở da thì giảm chậm liều cho đến khi đạt liều duy trì. Tuy nhiên, một số nghiên cứu cũng cho thấy dùng liều nhỏ thuốc (125mg/ngày) cũng có tác dụng tương đương liều cao mà lại ít tác dụng phụ hơn. Tác dụng phụ gặp trong khoảng 30 - 40% các trường hợp như sốt, chán ăn, nôn, phát ban, hạ bạch cầu, tiểu cầu, thiếu máu do suy tuỷ, hội chứng thận hư... và thường dẫn đến phải ngừng thuốc. Do đó cần phải theo dõi lượng bạch cầu, tiểu cầu trong máu và protein niệu.

Các phương pháp điều trị vật lý

Ngoài ra, người ta còn sử dụng các phương pháp điều trị vật lý để làm mềm da, phục hồi chức năng vận động, đặc biệt là điều trị nước suối khoáng nóng. Bệnh nhân cần tập thể dục thường xuyên để duy trì độ mềm dẻo của chi, ngón và độ nhạy cảm của da. Trường hợp bệnh nhân ngứa nhiều dùng thuốc kháng histamin H1, H2 hoặc thuốc trầm cảm ba vòng uống. Liều thấp của corticoid đường uống có thể dùng khi bệnh nhân ngứa nhiều trong khi đường bôi tại chỗ hiếm khi có tác dụng. Dùng một số thuốc dầu chứa lanolin bôi ngoài da cũng hạn chế một phần triệu chứng ngứa. Ngoài ra, bệnh nhân xơ cứng bì có ngứa nên hạn chế tiếp xúc với nước. Trường hợp có calci hoá dưới da có thể điều trị bằng colchicin 1mg/ngày có tác dụng giảm viêm tại chỗ hoặc thuốc nhóm chẹn kênh calci như diltiazem. Khi calci hóa da gây khó chịu nhiều có thể phẫu thuật lấy bỏ mảng calci. Do tình trạng calci hóa cũng như xơ cứng da dễ dẫn đến loét nên cần hạn chế mọi tổn thương tới da. Nếu có loét da cần được chăm sóc cẩn thận bằng thuốc rửa sát trùng hay cắt lọc ngoại khoa. Mọi nhiễm khuẩn da cần được điều trị bằng các thuốc kháng sinh thích hợp.

Điều trị hội chứng Raynaud

Đây là hội chứng rất thường gặp trong bệnh xơ cứng bì với các giai đoạn điển hình: co mạch làm bàn tay trắng bệnh; giãn mạch gây ứ huyết, tím, đau nhức; sau đó trở lại bình thường. Trường hợp nặng gây tắc mạch, hoại tử, loét đầu chi. Điều trị bao gồm các biện pháp không dùng thuốc: khuyên bệnh nhân giữ ấm toàn thân, đặc biệt giữ ấm bàn tay, bàn chân bằng cách mặc ấm, đi găng tay, tất chân trong mùa lạnh; tránh thay đổi nhiệt độ môi trường đột ngột, ví dụ đi từ  chỗ đang ấm đến phòng lạnh có điều hòa nhiệt độ; tránh stress tinh thần; không dùng các chất có chứa nicotin (như thuốc lá), cafein (trong cà phê); không dùng các thuốc co mạch như amphetamin, ergotamin, không dùng thuốc chẹn beta giao cảm vì dễ gây nên đợt bùng phát hội chứng Raynaud. Huấn luyện bệnh nhân liệu pháp ứng xử (behavioral therapy): dựa trên nguyên tắc hỗ trợ tâm lý, luyện tập với sự giúp đỡ của chuyên gia có thể  giúp bệnh nhân tạo ra cơ chế điều hòa ngược sinh học, qua đó kiểm soát được lưu lượng máu ngoại vi đến da, làm tăng nhiệt độ da đặc biệt tại các khu vực đầu chi. Với các đợt bệnh thưa, mức độ nhẹ thì chỉ cần các biện pháp dự phòng như trên là đủ. Còn khi các triệu chứng trở nên thường xuyên, nặng, đau nhiều, đặc biệt khi có rối loạn dinh dưỡng đầu chi hay loét thì phải dùng thêm thuốc với mục tiêu giãn cơ trơn mạch máu, làm tăng cường tuần hoàn.

(Theo Suc khoe & Đoi song)

  • Vỡ mộng xoá sạch sẹo lồi
  • Điều trị chứng đổ mồ hôi tay bằng kỹ thuật mới
  • Mẹo kiểm soát đổ mồ hôi tay chân
  • Một số bệnh về da do thiếu chất
  • Bệnh zona và thuốc trị
  • Lupus ban đỏ hệ thống: Thuốc và cách dùng
  • Mụn rộp ở môi: Dùng thuốc gì?
  • Thuốc trị bệnh xơ cứng bì
  • Một số bệnh về da trong mùa nóng
  • Viêm da tiếp xúc côn trùng và thuốc trị
  • Điều trị và phòng ngừa mụn cóc, hạt cơm
  • Bệnh thủy đậu
  • Khổ vì… ngứa
  • Tay nổi mụn nước
  • Những bài thuốc chữa thủy đậu
  • Có nên dùng thuốc kháng sinh để điều trị bệnh trứng cá?
  • Bí quyết chăm sóc da của người Nhật
  • Lá hoa đào chữa ho, ghẻ lở
  • Những rắc rối trên da ở tuổi teen: Khắc phục thế nào?
  • Nguyên nhân và cách điều trị mụn hạt cơm

Chăm sóc sức khỏe | Phòng chữa bệnh | Phân loại bệnh quốc tế ICD | Bệnh tai mũi họng | Bệnh răng hàm mặt | Bệnh cơ xương khớp | Bệnh hô hấp | Bệnh tim mạch | Bệnh thận tiết niệu | Bệnh về gan | Bệnh hệ thần kinh | Bệnh ung thư | Bệnh cột sống | Bệnh đường tiêu hóa | Bệnh dạ dày | Bệnh nội tiết | Bệnh đái tháo đường | Bệnh trĩ | Bệnh mắt | Bệnh da liễu | Bệnh béo phì | Trị bệnh bằng trái cây | Lịch tiêm chủng | Chích ngừa | Sơ cứu – cấp cứu | Tủ thuốc gia đình | Sức khỏe người cao tuổi | Phụ nữ mang thai và em bé | Bà bầu | Thai nghén 9 tháng 10 ngày | Trẻ sơ sinh | Sức khỏe trẻ em | Sức khỏe phụ nữ | Sức khỏe nam giới | Sức khỏe giới tính | Chuyện phòng the | Rèn luyện sức khỏe | Làm đẹp | Sống vui khỏe | Dinh dưỡng cho trẻ em | Dinh dưỡng cho người già | Dinh dưỡng cho người cao tuổi | Dinh dưỡng | Thực đơn cho bé | Dinh dưỡng chữa bệnh | Ẩm thực | Món ngon | Món ngon quê nhà | Mẹo vặt | Tư vấn dinh dưỡng | Y học dân tộc | Từ điển y dược học | Bài thuốc dân gian | Đông y chữa bệnh | Hỏi đáp y học dân tộc | Cây thuốc vị thuốc | Danh y việt | Hỏi đáp Tư vấn sức khỏe | Tư vấn sử dụng thuốc | Sản phẩm y tế | Thuốc bổ và vitamin | Thuốc gây tê - gây mê | Thuốc Giảm đau - Hạ sốt  Chống viêm | Thuốc chống dị ứng | Thuốc Cấp cứu - Giải độc | Thuốc hướng tâm thần | Thuốc Chống nhiễm khuẩn Trị ký sinh trùng | Thuốc Điều trị đau nửa đầu | Thuốc chống ung thư | Thuốc điều trị bệnh Đái tháo đường tiết niệu | Thuốc trị Parkinson | Tác dụng cho máu | Máu - Dung dịch cao phân tử | Thuốc trị bệnh tim mạch | Thuốc điều trị bệnh da liễu | Thuốc Dùng chẩn đoán | Thuốc sát khuẩn | Thuốc lợi tiểu | Thuốc đường tiêu hóa | Hocmon - Nội tiết tố | Huyết thanh & Globulin miễn dịch | Thực phẩm chức năng | Thuốc nhỏ mắt - Tai mũi họng | Thuốc điều trị bệnh gan | Thuốc điều trị bệnh cơ xương khớp | Thuốc có tác dụng thúc đẻ | Dung dịch thẩm phân phúc mạc | Thuốc cho đường hô hấp | Thuốc Giãn cơ và tăng trưởng lực cơDung dịch điều chỉnh nước điện giải   Thuốc có nguồn gốc Thảo dược    Dầu xoa - Cao xoa   Thuốc phụ khoa   Thiết bị chăm sóc sức khỏe   Thiết bị - Dụng cụ y tế   Thiết bị - Dụng cụ thể thao   Sách, tài liệu y khoa   phòng khám Nha khoa tại Hà Nội   phòng khám Nha khoa tại TP.HCM  Phòng khám nhi tại Hà Nội    Phòng khám nhi tại TP.HCM   Phòng khám đa khoa tại Hà Nội Phòng khám đa khoa tại TP.HCM   Phòng khám da liễu tại Hà Nội   Phòng khám da liễu tại TP.HCM   Phòng khám sản phụ khoa tại Hà Nội   Phòng khám sản phụ khoa tại TP.HCM   Phòng khám tai - mũi - họng tại Hà Nội   Phòng khám tai - mũi - họng tại tại TP.HCM   Bác sĩ tư cho gia đình tại Hà Nội  Bác sĩ tư cho gia đình tại TP.HCM   Thẩm mỹ viện - chỉnh hình tại Hà Nội   Thẩm mỹ viện - chỉnh hình tại TP.HCM    Bệnh viện tại Hà Nội  Bệnh viện tại TP.HCM   Hiệu thuốc tây tại Hà Nội   Hiệu thuốc tây tại TP.HCM   Hiệu thuốc tây tại Đà Nẵng   Hiệu thuốc tây tại Cần Thơ   Hiệu thuốc tây tại TP.Vũng Tàu  Hiệu thuốc tây tại Hải Phòng  Hiệu thuốc tây tại Nha Trang   Hiệu thuốc đông y tại Hà Nội  Hiệu thuốc đông y tại Tp.HCM   Lưu ý khi uống thuốc   Sử dụng thuốc kháng sinh   Sử dụng thuốc đặc trị   Sử dụng thuốc bổ  Giới thiệu nhà sản xuất dược phẩm   Tin y học - Công nghệ   Hồ sơ y học  Triển lãm – Hội thảo y học  Tương thân tương ái  nom sua  ca com  quan he vo chong  trieu chung ung thu vu    ung thu vu   viem amidan  nam linh chi  nam linh chi co tac dung gi  stress   benh mau trang   benh ung thu mau  diep ha chau giay dep  thuoc ngu thuy dau | Thiết bị định vị | Bán ống nhòm | Máy bộ đàm | Ống nhòm đêm | May bo dam | Tài chính | Thương mại | Thị trường | Giá vàng hôm nay | Cao huyết áp

Copyright © 2009 - 2012   USS Corp . All rights reserved.
Thông tin trong trang tinsuckhoe.com chỉ có tính chất tham khảo. Cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi áp dụng
Ghi rõ nguồn "tinsuckhoe.com" hoặc "Cổng thông tin chăm sóc sức khỏe và y tế cộng đồng " khi bạn phát hành lại thông tin từ trang này.
Địa chỉ: 13 Ngõ 54 Phố Kim Ngưu - Quận Hai Bà Trưng - Hà Nội
Mọi thông tin góp ý, hợp tác xin liên hệ: tinsuckhoe@gmail.com - Mobile: 0982 750 284.
Xem tốt nhất với trình duyệt Mozilla Firefox 3.0 ++