- Thuốc trong vườn: Mạch môn trị lao phổi
Lao phổi thuộc phạm trù vi chứng phế lao. Ngoài chụp X-quang, các nhà nghiên cứu y khoa còn dùng máy cắt lớp (CT) để phát hiện sớm bệnh ung thư phổi.
- Hỏi: Điều trị lao có làm hại gan?
Anh tôi bị bệnh viêm gan C, đã chích thuốc Peg-IFN được bảy tháng, có kết quả âm tính thì phát hiện thêm lao phổi nên phải tạm ngưng. Sau khi chích thuốc lao, xét nghiệm lại thì kết quả viêm gan C mạn tính. Xin hỏi nếu trị lao xong, có phải chích lại thuốc trị viêm gan C từ đầu như phác đồ? Chích thuốc lao hằng ngày có ảnh hưởng xấu đến gan?
- Các thuốc điều trị lao
Thuốc chữa lao có nhiều loại, tác dụng của mỗi thuốc trên trực khuẩn lao không giống nhau, có thuốc có tác dụng ức chế vi khuẩn, có thuốc có tác dụng tiệt khuẩn, có thuốc tác dụng trên trực khuẩn lao khi chúng ở trong tế bào, có thuốc tác dụng trên trực khuẩn lao cả ở trong và ngoài tế bào...
- Mục đích điều trị lao
Điều trị lao nhằm các mục đích sau: Chữa cho người mắc lao khỏi bệnh, không lây bệnh sang người khác. Tránh cho người lao nặng khỏi tử vong.Ngăn chặn, hạn chế tổn thương lao phát triển, huỷ hoại thêm cơ thể. Phòng chống các biến chứng, các hậu quả do bệnh lao gây ra.
- Các giai đoạn trong điều trị lao
Trực khuẩn lao là trực khuẩn rất đặc biệt, có lớp vò có cấu trúc phong phú, phức tạp làm cho nó khó bị các tế bào miễn dịch của cơ thể tiêu diệt. Hơn nữa ngoài khả năng tồn tại bên ngoài tế bào của cơ thể, trực khuẩn lao còn có thể sống tiềm ẩn bên trong tế bào nên tránh được tác động của thuốc chống lao, duy trì được sự tồn tại và khi có điều kiện thuận lợi thì nó phát triển bên trong tế bào.
- Những nguyên nhân thường gặp của việc chữa lao không khỏi
Với các thuốc chống lao hiện có, việc chữa khỏi bệnh lao có thể đạt tới 95% thậm chí gần 100% nếu dùng các công thức điều trị mạnh, có theo dõi cẩn thận, điều trị đúng quy cách.
- Những nguyên tắc tránh kháng thuốc khi điều trị lao
Kháng thuốc tiên phát rất khó tránh vì nó xảy ra do bị lây nhiễm bởi dòng trực khuẩn lao có từ một người bệnh đã bị kháng thuốc mắc phải do điều trị lao không đúng quy cách mà những người này thì trong cộng đồng còn rất nhiều nhất là ở những nước đang phát triển.
- Xét nghiệm và chẩn đoán bệnh lao
Xét nghiệm đờm trực tiếp tìm trực khuẩn lao BK (+) là biện pháp quan trọng nhất, là cách chẩn đoán chắc chắn nhất lao phổi.
- Dấu hiệu nghi ngờ và các phương pháp phát hiện bệnh lao
Một người bị nghi ngờ mắc bệnh lao khi: Sống ở môi trường ẩm thấp, có nhiều người mắc bệnh lao. Gầy sút cân, ăn uống kém, người mệt mỏi. Ho không rõ nguyên nhân kéo dài, điều trị bằng các loại thuốc ho, kháng sinh không khỏi. Hay ra mồ hôi trộm.
- Chuẩn đoán bệnh lao
Chẩn đoán lao phổi bằng xét nghiệm đờm tìm trực khuẩn lao là biện pháp rất cơ bản lại rất đơn giản, rẻ tiền rất phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của các nước nghèo, các nước đang phát triển
- Triệu chứng bệnh lao phổi
Các triệu chứng quan trọng nhất là: ho, khạc đờm, ho máu. Các triệu chứng khác là: đau ngực, khó thở, có tiếng rên khu trú ở một vùng của phổi v.v...
- Triệu chứng của bệnh lao da
Vi khuẩn lao đi vào da qua những vết xây xát, chảy máu hoặc những vết cắt, thường là ở các phần hở như bàn chân, cẳng chân, bàn tay hay mặt
- Phòng bệnh lao
Muốn phòng lao cho cộng đồng, phải giảm được nguồn lây lao. Nguồn lây lao quan trọng nhất là người lao phổi có trực khuẩn lao phát hiện được trong đờm bằng phương pháp soi trực tiếp.
- Cơ bản về bệnh lao ở trẻ em
Ở trẻ em, bệnh lao nặng như lao kê và lao màng não, có thể dẫn đến tử vong. Phần lớn bệnh lao ở trẻ em là thể lao phổi BK
- Tình hình bệnh lao
Ở nước ta, bệnh lao còn phổ biến và ở mức độ trung bình cao. Việt Nam đứng thứ 13 trong 22 nước có số bệnh nhân lao cao trên loàn cầu, (TCYTTG, 2004). Trong khu vực Tây - Thái Bình Dương, Việt Nam đứng thứ ba sau Trung quốc và Philipinnes về số lượng bệnh nhân lao lưu hành cũng Như bệnh nhân lao mới xuất hiện hàng năm.
- Bệnh lao là gì
Lao là tình trạng nhiễm vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis, thường gặp nhất ở phổi nhưng cũng có thể ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương (lao màng não), hệ bạch huyết, hệ tuần hoàn (lao kê), hệ niệu dục, xương và khớp.