Thương làm sao. Cây cỏ hứng ánh nắng từ mặt trời, lấy nước muối khoáng từ đất, chế tạo thức ăn nuôi mình và nuôi muôn loài. Rau trái mang sinh tố vào bữa ăn, bệnh tật ra khỏi thân thể, trẻ con lớn khoẻ, người lớn sống vui.
 |
Những năm cuối thế kỷ 19, bác sĩ quân y Christiaan Eijkman làm việc tại đảo Java (thuộc địa của Hà Lan) thấy những chú gà ăn gạo trắng bị chứng tê phù. Ông cho thêm chất cám vào bữa ăn thì chúng hồi phục. Những người tiếp nối lần lần làm rõ vai trò của chất nhiệm màu trong cám của gạo lức. Đến năm 1926 hai ông P. Jansen và F. Donath phân lập được tinh thể chất lạ chiết xuất từ cám: chỉ cần 1% của một miligram mỗi ngày để trị hết bệnh một con bồ câu thiếu chất kỳ diệu này. Giải Nobel sinh lý hoặc y học năm 1929 đầu tiên vinh danh sự khám phá vitamin được trao cho Eijkman, 35 năm sau khi ông trị gà khỏi bệnh. Khoảng năm 1910 nhà sinh hoá C.Funk cho là mình đã phân lập được chất nhiệm màu trong cám và gọi là vital amines (chất sống amines). Khám phá của ông là sai lầm, nhưng từ ông đề xuất được giữ lại và gọi gọn là vitamin. Từ sinh tố cũng rất phù hợp.
Cơ thể không làm ra được
Các vitamin là các chất trong các thức ăn của chúng ta. Cơ thể cần vitamin mới hoạt động tốt. Mỗi loại vitamin có một nhiệm vụ. Chẳng hạn như vitamin D trong sữa giúp cho xương chắc. Vitamin A trong củ càrốt giúp nhìn được trong bóng tối. Vitamin C trong chanh, cam giúp cơ thể lành nếu bị đứt tay đứt chân. Các vitamin B ở các loại rau cải xanh giúp cơ thể làm ra protein và năng lượng.
Nước và mỡ hoà tan các vitamin. Có hai nhóm: các vitamin tan trong mỡ dầu và vitamin tan trong nước. Khi chúng ta ăn, các vitamin tan trong mỡ dầu thì được trữ trong các mô mỡ và trong lá gan, tạm trú đôi ngày, hay nấn níu đến sáu tháng. Rồi chúng được chuyển tới nơi cơ thể cần. Các vitamin A, D, E và K tan trong mỡ dầu. Các vitamin tan trong nước thì lại khác, chúng ngao du trong dòng máu, thứ nào không được dùng thì ra ngoài cơ thể theo đường tiểu. Mấy thứ vitamin này cần được thay hoài vì không trữ được. Đó là vitamin C và nhóm lớn các vitamin B.
Cơ thể không làm ra được. Cơ thể chúng ta là một cái máy rất tuyệt, tự làm ra mọi thứ. Vậy mà cơ thể chào thua: không làm ra được các vitamin. Thức ăn mang vitamin vào. Thưởng thức nhiều món mới có đủ loại vitamin. Ăn lành, đúng điệu chẳng cần uống vitamin phụ thêm. Các vitamin không đem năng lượng cho cơ thể nhưng nối kết và điều hoà xâu chuỗi các phản ứng biến dưỡng để lấy ra năng lượng từ thức ăn. Nhiều vitamin và muối khoáng làm việc cặp kè nhau theo nhóm. Thí dụ như sự cân bằng hài hoà giữa vitamin D, canxi, magiê, phốtpho, kẽm, mangan... cần cho một bộ xương tốt. Việc cặp kè rất tuyệt vời trong rau quả. Cơ thể dự trữ các vitamin tan trong mỡ, dùng quá liều sẽ có phản ứng phụ. Cẩn thận với vitamin A, bêtacaroten, vitamin E và vitamin D quá liều. Vitamin tan trong nước thì chẳng gây khó chịu vì phân tán theo các chất dịch trong người rồi thải ra theo nước tiểu.
Trời đất cho ta rau cải và trái cây
Rõ rồi, ăn nhiều loại rau lá và nhiều loại trái cây làm tốt cho sức khoẻ chúng ta. Nghiên cứu này tiếp nghiên cứu khác đều cho thấy là chế độ dinh dưỡng có nhiều rau trái làm giảm bớt nguy cơ bị một số bệnh ung thư, bệnh tim mạch và các bệnh mạn tính khác. Có vai trò dinh dưỡng quan trọng, rau trái còn giúp bữa ăn mỗi ngày thay đổi. Bao nhiêu là màu sắc, bao nhiêu là hương vị, bao nhiêu là thành phần làm cho thay đổi mỗi bữa ăn, vui mắt, thơm tho.
Các loại rau trái mang đầy các vitamin và muối khoáng thiết yếu và các vi chất không có trong các viên thuốc bổ đa vitamin. Rau trái còn là nguồn chất xơ dinh dưỡng, giúp tránh táo bón, giúp ruột bớt hấp thụ các độc tố trong chất thải, giảm nguy cơ ung thư.
Đừng đi quá xa
Từ hơn vài mươi năm trở lại đây, các vitamin được coi là loại bổ sung dinh dưỡng quan trọng để khắc phục một chế độ ăn uống không đủ và làm sức khoẻ tốt hơn.
Nhóm vitamin gọi là kháng oxit hoá được lưu tâm đặc biệt. Các kết quả từ các phòng thí nghiệm và nghiên cứu trên loài vật gợi ra là các chất này hoá giải được tác hại của các gốc hoá học tự do, thứ này có thể làm tổn thương tế bào, gây sự lão hoá và bệnh ung thư. Mới hé thấy mối liên hệ tốt giữa vitamin bổ sung và sức khoẻ nhiều người đã dùng thuốc “bổ” đều đặn. Nhưng đừng quá tin các viên vitamin bổ sung liều cực mạnh (liều mêga), đừng lạm dụng vitamin A, E và bêta caroten. Hãy dùng vitamin trong rau trái. Bà mẹ thiên nhiên chăm lo tốt muôn loài.
Các vitamin có thể ngừa đột quỵ? Các nhà nghiên cứu không dám chắc uống các vitamin có thể ngừa các bệnh tim hay đột quỵ. Vài loại sinh tố, như C và E có thể ngừa nguy cơ bệnh tim, tránh xơ vữa động mạch tim. Vitamin D cũng có thể giúp tim. Vitamin không thể giúp phòng ngừa nguy cơ tim mạch nếu tự mình không kiểm soát các yếu tố khác, như dinh dưỡng, thiếu vận động thân thể, hút thuốc, cholesterol cao và tiểu đường.
GS.BS Nguyễn Chấn Hùng
Biết bao công sức Năm 1929, Christiaan Eijkman và Frederick G. Hopkin được trao giải vì khám phá vitamin B1. G. Wipple, G. Minor và W. Murphy nhận giải y học năm 1934 vì các công trình liên quan đến vitamin B12. Cùng năm 1937, Albert Szent – Györgyi nhận giải Nobel Y học do tìm ra vitamin C và Norman Haworth được trao giải Hoá học vì tổng hợp được vitamin C giúp sản xuất đại trà với giá thành thấp. Biết bao người được hưởng thành tựu này. Haworth chia giải Hoá học này với Paul Kerrer, người tìm ra cấu trúc vitamin A và E... Năm 1938, giải Hoá học lại trao cho Richard Kuhn, người Đức vì các công trình nghiên cứu về các vitamin B (riboflavin, pyridoxin). Đôi lời nhắc nhở Chế độ ăn lành. Bữa ăn nhiều trái cây, nhiều rau cải, các loại ngũ cốc còn nguyên, các loại hột và dầu lành, ít thịt đỏ, ít mỡ. Viên đa sinh tố cần cho người thiếu dinh dưỡng, nhưng thua xa các bữa ăn lành, đủ. Hãy nhớ đến vitamin D. Vitamin D làm cho xương chắc. Đừng để thiếu ánh sáng. Người ta thấy vitamin D có thể làm giảm nguy cơ ung thư ruột và vú. Tránh xa các viên mêga (megadose). Tránh liều cực lớn các loại vitamin và các loại thức ăn được bổ sung sinh tố cực mạnh. Đừng xiêu lòng vì viên vitamin siêu hạng quảng cáo trên tivi và trên mạng. Để dành tiền mua thức ăn lành và đi du lịch. Nhớ lấy bài học. Người ta từng tin tưởng là vitamin E, A, bêta caroten, selenium, axit folic và các vitamin B với liều mêga (cực lớn) thật có lợi cho sức khoẻ. Kết quả thử nghiệm đem đến nhiều thất vọng. Riêng với vitamin A và bêtacaroten, người ta càng sửng sốt. Bổ sung liều cao các vitamin này có thể làm tăng nguy cơ ung thư phổi ở những người hút thuốc và làm trầm trọng thêm ung thư tiền liệt tuyến ở một số người. Bổ sung vitamin D có thể giúp giảm nguy cơ tim mạch và vài loại ung thư, đặc biệt là ung thư ruột già. Đây là điều rất hứa hẹn, nhưng chưa được khẳng định. |