• Dùng thuốc và điều trị nhồi máu cơ tim
  • Kỹ thuật mới cho việc “khử” vị trí bị hẹp ở động mạch
  • Bệnh nhồi máu cơ tim và bài thuốc chữa từ đông y
  • Làm gì để tự khống chế huyết áp?
  • Dự phòng tái phát sau nhồi máu cơ tim
  • Các thuốc chống loạn nhịp tim
  • Thuốc điều trị suy mạch vành
  • Mẹo nhỏ làm giảm cơn cao huyết áp
  • Những lưu ý cho người bị huyết áp thấp
  • Hỏi: Biện pháp hỗ trợ bệnh thiếu máu cơ tim
  • Làm gì khi bị tụt huyết áp?
  • 8 cách giảm bệnh tim mạch
  • Đông y điều trị rối loạn nhịp tim
  • Khổ sâm chữa rối loạn nhịp tim
  • Hỏi: Điều trị bệnh thiếu máu cơ tim
  • Phòng và xử trí bệnh tai biến mạch máu não

Dự phòng tái phát sau nhồi máu cơ tim

Bệnh nhân nhồi máu cơ tim có nguy cơ tái phát rất cao nếu không được chăm sóc và điều trị tốt sau khi được cứu sống bằng thuốc tiêu sợi huyết, can thiệp hay phẫu thuật bắc cầu nối chủ - vành. Chính vì vậy, ngay khi được xử trí, bệnh nhân cần phải tuân thủ các chỉ định của thầy thuốc và cần đến bệnh viện ngay lập tức nếu có các biểu hiện tái phát.

Những điều bệnh nhân cần biết

Trước khi ra viện, các bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp (NMCTC) cần được giáo dục về sức khỏe, các hoạt động thể lực, thay đổi lối sống và việc dùng thuốc để phòng ngừa thứ phát các bệnh tim mạch. Bệnh nhân và gia đình cần có bảng hướng dẫn trước khi ra viện về các triệu chứng của thiếu máu cơ tim, gọi xe cấp cứu khi các triệu chứng thiếu máu cơ tim tái phát và không giảm đi hay trở nên trầm trọng hơn 5 phút sau khi ngậm 1 viên  nitroglycerin dưới lưỡi để đảm bảo chắc chắn bệnh nhân sẽ được chẩn đoán và điều trị sớm khi bệnh tái phát.

Tất cả bệnh nhân có thừa cân - béo phì cần phải thực hiện chiến lược giảm cân. Nên đo vòng bụng và tính chỉ số khối lượng cơ thể cho các bệnh nhân. Chỉ số khối lượng cơ thể trung bình từ 18,5 - 24,9 kg/m2. Nếu vòng bụng lớn hơn 90cm ở nam giới và hơn 80cm ở nữ giới có thể dẫn đến hội chứng chuyển hóa và cần phải giảm cân.

Các bệnh nhân cần tránh tái hút thuốc lá ngay trước khi ra viện. Đồng thời phải kiểm soát huyết áp dưới 140/90mmHg (dưới 130/80mmHg ở bệnh nhân đái tháo đường hay bệnh thận mạn tính) bằng thuốc và thay đổi lối sống. Thay đổi lối sống (giảm cân, thay đổi chế độ ăn, tăng hoạt động thể lực và ăn nhạt) nên thực hiện cho tất cả các bệnh nhân có huyết áp lớn hơn hoặc bằng 120/80mmHg. Không nên dùng thuốc chẹn kênh canxi nhóm dihydropyridin có tác dụng ngắn để điều trị tăng huyết áp.

Nếu bệnh nhân có kèm theo đái tháo đường cần kiểm soát chặt đường huyết bằng insulin hay thuốc hạ đường huyết uống và chế độ ăn để đạt HbA1C dưới 7%. Nhóm thuốc thiazolidinedion không nên dùng cho các bệnh nhân hồi phục sau NMCTC  bị suy tim độ  III-IV.

Hormon liệu pháp với estrogen phối hợp với progestin không nên sử dụng cho các bệnh nhân mới bị mãn kinh sau NMCTC như là một biện pháp phòng ngừa thứ phát các biến cố của bệnh mạch vành nói chung. Các bệnh nhân mãn kinh đã sử dụng thuốc tại thời điểm bị NMCTC không nên tiếp tục dùng thuốc. Tuy nhiên, các bệnh nhân đã sử dụng thuốc 1-2 năm muốn tiếp tục sử dụng thuốc vì các chỉ định khác nên cân nhắc giữa nguy cơ và lợi ích mang lại từ việc sử dụng thuốc. Hormon liệu pháp không nên  tiếp tục dùng khi bệnh nhân phải nằm dưỡng bệnh tại giường.

Các vitamin chống ôxy hóa như vitamin E, C không nên sử dụng cho bệnh nhân hồi phục sau NMCTC để phòng ngừa các bệnh tim mạch.

Các chỉ định điều trị cần thiết sau nhồi máu cơ tim

Các bệnh nhân hội chứng động mạch vành (ĐMV) cấp nên được theo dõi ít nhất trong 24 giờ để đánh giá nhánh ĐMV gây nhồi máu được mở thông sau khi dùng thuốc tiêu sợi huyết, tắc lại sau can thiệp ĐMV và phát hiện các biến chứng tái thiếu máu. Huyết áp cũng nên được theo dõi liên tục, tần suất phụ thuộc vào tình trạng của từng bệnh nhân.

Bệnh nhân NMCTC phải nhập viện ở đơn vị chăm sóc đặc biệt và theo dõi điện tim liên tục. Mọi bệnh nhân phải cho dùng aspirin (160-325mg) và heparin càng sớm càng tốt. Điều trị bằng thuốc chẹn bêta giao cảm và nitroglycerin, nếu còn đau ngực và không có chống chỉ định. Heparin trọng lượng phân tử thấp và các thuốc ức chế thụ thể glycoprotein IIb/IIIa của tiểu cầu đã làm thay đổi đáng kể phương pháp điều trị hiện nay. Phối hợp các thuốc ức chế thụ thể glycoprotein IIb/IIIa với heparin và aspirin cũng làm giảm tỷ lệ biến chứng lâm sàng (tử vong và nhồi máu cơ tim). Vì vậy cả heparin trọng lượng phân tử thấp và ức chế thụ thể glycoprrotein IIb/IIIa được chỉ định cho bệnh nhân hội chứng ĐMV cấp trong đó có nhồi máu cơ tim có nguy cơ cao.

Nên chủ động can thiệp ĐMV sớm ở những bệnh nhân hội chứng ĐMV cấp có nguy cơ cao trừ khi có chống chỉ định. Đối với những bệnh nhân có nguy cơ trung bình, quyết định điều trị bảo tồn hay can thiệp sớm phụ thuộc vào kinh nghiệm của người thầy thuốc và nguyện vọng của bệnh nhân.

Còn đối với NMCTC có đoạn ST chênh lên thì tiêu sợi huyết vẫn là chiến lược điều trị chuẩn mực cho các bệnh nhân đến viện sớm và không có chống chỉ định, đặc biệt ở các cơ sở y tế chưa có khả năng can thiệp ĐMV qua da cấp cứu. Tuy nhiên, tái tưới máu bằng can thiệp ĐMV qua da có tiên lượng tốt hơn, đặc biệt là ở những trung tâm tim mạch can thiệp lớn có nhiều kinh nghiệm. Đối với điều trị tiêu sợi huyết, vấn đề quan trọng nhất là phải dùng thuốc càng sớm càng tốt sau khi khởi phát nhồi máu cơ tim. Heparin được dùng để bổ sung cho điều trị tiêu sợi huyết. Tác dụng ức chế ngưng tập tiểu cầu của các thuốc ức chế thụ thể glycoprotein IIb/IIIa làm tăng tỷ lệ mở thông nhánh ĐMV thủ phạm gây nhồi máu và duy trì mở thông các động mạch này về lâu dài.

Ngoài những chỉ định lâm sàng, còn phải tính đến tính khả thi và giá thành. Lựa chọn chiến lược điều trị tái tưới máu không chỉ liên quan đến những tiêu chí khoa học mà còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, trang thiết bị máy móc và khả năng của cơ sở y tế. Cuối cùng, tất cả bệnh nhân phải được tư vấn kỹ lưỡng để thay đổi và điều trị các yếu tố nguy cơ. Đa số bệnh nhân phải dùng lâu dài các thuốc aspirin, thuốc chẹn bêta giao cảm, thuốc statin và một thuốc ức chế men chuyển.

TS. Nguyễn Quang Tuấn // Sức khỏe & Đời sống



Copyright © 2009 - 2012   USS Corp . All rights reserved.

Chăm sóc sức khỏe | Phòng chữa bệnh | Phân loại bệnh quốc tế ICD | Bệnh tai mũi họng | Bệnh răng hàm mặt | Bệnh cơ xương khớp | Bệnh hô hấp | Bệnh tim mạch | Bệnh thận tiết niệu | Bệnh về gan | Bệnh hệ thần kinh | Bệnh ung thư | Bệnh cột sống | Bệnh đường tiêu hóa | Bệnh dạ dày | Bệnh nội tiết | Bệnh đái tháo đường | Bệnh trĩ | Bệnh mắt | Bệnh da liễu | Bệnh béo phì | Trị bệnh bằng trái cây | Lịch tiêm chủng | Chích ngừa | Sơ cứu – cấp cứu | Tủ thuốc gia đình | Sức khỏe người cao tuổi | Phụ nữ mang thai và em bé | Bà bầu | Thai nghén 9 tháng 10 ngày | Trẻ sơ sinh | Sức khỏe trẻ em | Sức khỏe phụ nữ | Sức khỏe nam giới | Sức khỏe giới tính | Chuyện phòng the | Rèn luyện sức khỏe | Làm đẹp | Sống vui khỏe | Dinh dưỡng cho trẻ em | Dinh dưỡng cho người già | Dinh dưỡng cho người cao tuổi | Dinh dưỡng | Thực đơn cho bé | Dinh dưỡng chữa bệnh | Ẩm thực | Món ngon | Món ngon quê nhà | Mẹo vặt | Tư vấn dinh dưỡng | Y học dân tộc | Từ điển y dược học | Bài thuốc dân gian | Đông y chữa bệnh | Hỏi đáp y học dân tộc | Cây thuốc vị thuốc | Danh y việt | Hỏi đáp Tư vấn sức khỏe | Tư vấn sử dụng thuốc | Sản phẩm y tế | Thuốc bổ và vitamin | Thuốc gây tê - gây mê | Thuốc Giảm đau - Hạ sốt  Chống viêm | Thuốc chống dị ứng | Thuốc Cấp cứu - Giải độc | Thuốc hướng tâm thần | Thuốc Chống nhiễm khuẩn Trị ký sinh trùng | Thuốc Điều trị đau nửa đầu | Thuốc chống ung thư | Thuốc điều trị bệnh Đái tháo đường tiết niệu | Thuốc trị Parkinson | Tác dụng cho máu | Máu - Dung dịch cao phân tử | Thuốc trị bệnh tim mạch | Thuốc điều trị bệnh da liễu | Thuốc Dùng chẩn đoán | Thuốc sát khuẩn | Thuốc lợi tiểu | Thuốc đường tiêu hóa | Hocmon - Nội tiết tố | Huyết thanh & Globulin miễn dịch | Thực phẩm chức năng | Thuốc nhỏ mắt - Tai mũi họng | Thuốc điều trị bệnh gan | Thuốc điều trị bệnh cơ xương khớp | Thuốc có tác dụng thúc đẻ | Dung dịch thẩm phân phúc mạc | Thuốc cho đường hô hấp | Thuốc Giãn cơ và tăng trưởng lực cơDung dịch điều chỉnh nước điện giải   Thuốc có nguồn gốc Thảo dược    Dầu xoa - Cao xoa   Thuốc phụ khoa   Thiết bị chăm sóc sức khỏe   Thiết bị - Dụng cụ y tế   Thiết bị - Dụng cụ thể thao   Sách, tài liệu y khoa   phòng khám Nha khoa tại Hà Nội   phòng khám Nha khoa tại TP.HCM  Phòng khám nhi tại Hà Nội    Phòng khám nhi tại TP.HCM   Phòng khám đa khoa tại Hà Nội Phòng khám đa khoa tại TP.HCM   Phòng khám da liễu tại Hà Nội   Phòng khám da liễu tại TP.HCM   Phòng khám sản phụ khoa tại Hà Nội   Phòng khám sản phụ khoa tại TP.HCM   Phòng khám tai - mũi - họng tại Hà Nội   Phòng khám tai - mũi - họng tại tại TP.HCM   Bác sĩ tư cho gia đình tại Hà Nội  Bác sĩ tư cho gia đình tại TP.HCM   Thẩm mỹ viện - chỉnh hình tại Hà Nội   Thẩm mỹ viện - chỉnh hình tại TP.HCM    Bệnh viện tại Hà Nội  Bệnh viện tại TP.HCM   Hiệu thuốc tây tại Hà Nội   Hiệu thuốc tây tại TP.HCM   Hiệu thuốc tây tại Đà Nẵng   Hiệu thuốc tây tại Cần Thơ   Hiệu thuốc tây tại TP.Vũng Tàu  Hiệu thuốc tây tại Hải Phòng  Hiệu thuốc tây tại Nha Trang   Hiệu thuốc đông y tại Hà Nội  Hiệu thuốc đông y tại Tp.HCM   Lưu ý khi uống thuốc   Sử dụng thuốc kháng sinh   Sử dụng thuốc đặc trị   Sử dụng thuốc bổ  Giới thiệu nhà sản xuất dược phẩm   Tin y học - Công nghệ   Hồ sơ y học  Triển lãm – Hội thảo y học  Tương thân tương ái  nom sua  ca com  quan he vo chong  trieu chung ung thu vu    ung thu vu   viem amidan  nam linh chi  nam linh chi co tac dung gi  stress   benh mau trang   benh ung thu mau  diep ha chau giay dep  thuoc ngu thuy dau   Cao huyết áp


Thông tin trong trang tinsuckhoe.com chỉ có tính chất tham khảo. Cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi áp dụng
Ghi rõ nguồn "tinsuckhoe.com" hoặc "Cổng thông tin chăm sóc sức khỏe và y tế cộng đồng " khi bạn phát hành lại thông tin từ trang này.
Địa chỉ: 13 Ngõ 54 Phố Kim Ngưu - Quận Hai Bà Trưng - Hà Nội
Mọi thông tin góp ý, hợp tác xin liên hệ: tinsuckhoe@gmail.com - Mobile: 0982 750 284.
Xem tốt nhất với trình duyệt Mozilla Firefox 3.0 ++