• Người mắc bệnh thận, nói không với thuốc nào?
  • Uống nước chanh hàng ngày giúp phòng và chữa sỏi thận
  • Hiện tượng siêu lọc ở cầu thận
  • Hội chứng viêm thận cấp
  • Sỏi thận
  • Viêm cầu thận mãn
  • Bệnh lí thận màng
  • Nhiễm trùng thận (viêm bể thận)
  • Chăm sóc răng miệng đối với bệnh nhân bệnh thận
  • Những phương pháp áp dụng cho bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối
  • Hội chứng Goodpasture
  • Phương pháp tán sỏi ngoài cơ thể
  • Dinh dưỡng cho người bệnh tiết niệu
  • Viêm thận kẽ- Interstitial nephritis
  • Cytomegalo virus trong ghép thận
  • Cơ hội cho người suy thận
  • Nguy cơ nhiễm trùng đường tiết niệu ở phụ nữ
  • 6 dấu hiệu suy thận ở chị em
  • Lọc máu ngoài thận và chế độ ăn thích hợp
  • Trị sỏi tiết niệu và đường mật bằng dược thảo
  • Hỏi: Điều trị viêm cầu thận
  • Chữa sỏi thận bằng Đông y
  • Dùng erythropoietin cho người thiếu máu do suy thận
  • Món ăn lợi tiểu
  • Những thói quen bảo vệ thận
  • Điều cần biết về sỏi thận
  • Bệnh thận, cần phát hiện sớm!
  • Những người dễ bị sỏi thận
  • Ăn nhiều hoa quả giúp giảm nguy cơ mắc sỏi thận
  • Đông y trị chứng viêm thận - bể thận
  • Người bệnh thận nên ăn gì?
  • Bệnh sỏi tiết niệu và bài thuốc chữa
  • Mức độ nguy hiểm của viêm thận, bể thận cấp
  • Suy Thận
  • Dầu cá giúp tăng sức đề kháng cho người bị bệnh thận mạn tính
  • Giảm bệnh thận nhờ ăn cá
  • Viêm thận, bể thận cấp tính: Nhận biết và xử trí
  • Bệnh sỏi thận (hay sạn thận)
  • Các chứng bệnh dễ gây suy thận
  • Thận hư nhiễm mỡ
  • Bệnh viêm thận –bể thận ở trẻ em
  • Bệnh lí thận trào ngược
  • Viêm cầu thận trong bệnh lupus ban đỏ hệ thống

Những phương pháp áp dụng cho bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối

Có hai phương pháp chính là lọc máu và ghép thận

A. Lọc máu(thẩm phân máu) nhờ hiện tượng thẩm tách:

1) Thế nào là thẩm phân?

Thẩm phân là tách các phân tử nhỏ trong dung dịch bằng hiện tượng khuyếch tán qua một màng

Thẩm phân máu nhằm mục đích loại bỏ những chất độc hại do bệnh trong cơ thể sinh ra(thí dụ thiểu năng thận) hoặc do các chất từ ngoài xâm nhập vào(thí dụ nhiễm chất độc)

 2) Cấu tạo màng lọc thận nhân tạo và Phương pháp thẩm phân

Người ta đặt một màng nhăn cách máu cặn lọc với dung dịch thẩm phân (dung dịch có nồng độ các chất nước, muối khoáng, glucose thích hợp cho từng trường hợp bệnh khác nhau). Thông qua hiện tượngkhuyếch tán qua màng các chats cần loại bỏ rời khỏi màng tới dung dịch thẩm phân. Nói một cách nôm na màng như một cái sàng

Màng dùng trong thẩm phân máu thường là màng celophal có dạnglá mỏng hay ống thậnđược xếp song song nhau. Ở hai phía mỗi lá có máu cấn lọc và dung dịch thẩm phân(DDTP) chảy ngược chiều nhau(hình 1)

Máu sau lấy ra ở động mạch sau khi   thẩm phân được đưa lại vào tĩnh mạch  lưu lượng khoảng 300 mlphút. Dung dịch thẩm phân phải duy trì ở 35oC lưu lượng khoảng 500 ml phút. Thành phần của dung dịch thẩm phân phụ thuộc trạng thái bệnh nhân  

Ví dụ thành phần một dung dịch thẩm phân:

Glucose :          2g

NaCl:               6.3g

CaCl2: 0.3 g

KCl:                 0-0.3 g (tuỳ thuộc lương KCl trong máu bệnh nhân)

NaHCO3:        2.65g

H2O:                1000ml

Màng lọc thận nhân tạo khi khô dày chừng 13 µm khi ướt khoảng 26µm mật độ lỗ khoảng 2.5x10E12 cm2 diện tích tổng cộng của các lỗ màng lên tới 1.5 m2

Một đợt chậy thận nhân tạo kéo dài từ 2-4 giờ cho phép loại bỏ những lượng thừa urê Cl-, Na+, K+, sunfat và phosphate…có trong máu

B. Ghép thận:

Tên gọi bao giờ cũng thể hiện và thông báo cho ta những nội dung chính!

Chắc chắn các bạn đã từng ghép trồi ghép mầm ghép nhánh trên cây! Ở đây chúng ta có ghép thận? HIểu một cách đơn giản ghép thận là lấy thận của người này ghép cho người kia! Phương pháp ghép thận rất phức tạp phải trải qua nhiều bước tỉ mỉ và công phu, ở đây chỉ trình bày một vài điều liên quan tới việc ghép thận.  1)    Ghép thận có tốt hơn lọc máu cho những bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối không

  • Tất cả những nghiên cứu đều cho thấy tỷ lệ sống ở những bệnh nhân ghép thận được cải thệin hơn so với những bệnh nhân lọc máu. Tuy nhiên có một yếu tố gây nhiễu là vì các bệnh nhân đạt tiêu chuẩn được ghép thận đều là những bệnh nhân ổn định và khỏe mạnh. Sau ghép thận đa số các biến chứng của suy thận mạn như thiếu máu, rối lọan chuyển hóa, rối lọan tình dục, bệnh lý thần kinh... đều được giải quyết. Ngoài ra, chất lượng sống được cải thiện đáng kể ở những bệnh nhân ghép thận so với lọc máu

2)   Khoảng thời gian cho phép chờ đợi từ khi thận được lấy ra khỏi cơ thể người cho đến khi được ghép là bao lâu

  • Ða số các trung tâm ghép thận chấp nhận thời gian thiếu máu (thời gian thận bị lấy ra khỏi hệ tuần hoàn) là 24- 36 giờ. Trong trường hợp người cho là người sống, hầu như thận được ghép ngay sau khi lấy ra khỏi cơ thể người cho. Nếu thời gian chờ đợi vượt quá 24- 36 giờ thì tỷ lệ thận không họat động sau ghép sẽ tăng. Dù vậy vẫn có những báo cáo về trường hợp ghép thận thành công dù thời gian thiếu máu >24- 36 giờ.
     
  • Một phương pháp bảo quản thận phổ biến là chứa trong dung dịch lạnh. Thận được tưới rửa tại chỗ trước khi lấy ra khỏi cơ thể bằng dung dịch lạnh có thành phần giống dịch nội bào. Ðộng tác tưới rửa này sẽ giúp làm lạnh thận, do đó giảm nhu cầu chuyển hóa của thận đồng thời đẩy hết máu ra khỏi thận. Sau khi lấy ra khỏi cơ thể, thận sẽ được đặt trong bao nhựa vô trùng có chứa dịch tương tự như dịch tưới rửa nhưng thành phần Magnesium giảm đi (vì magnesium sẽ kết tủa trên bề mặt của thận). Sau đó túi nylon này sẽ được đặt vào thùng vô trùng chứa đá và được vận chuyển đến nơi ghép thận. Những dịch bảo quản mới: dung dịch của trường đại học Wisconsin có cho thêm những chất giàu năng lượng và đã làm cải thiện đáng kể khả năng họat động sớm của thận sau khi ghép.
     
  • Một phương pháp khác để bảo quản là tưới rửa bằng máy. Sau khi bơm rửa thận tại chỗ, thận được đặt vào một bộ máy có bơm tưới rửa liên tục thận ở 40 C nhưng đã lấy đi lipoprotein và các thành phần gây đông máu. Phương pháp này tốn tiền và phiền phức nên ít khi được sử dụng.

 3)   Bệnh nhân bị ung thư có nên ghép thận hay không

  • Ung thư đang họat động là một trong những chống chỉ định của ghép thận vì thuốc ức chế miễn dịch có khả năng làm thúc đẩy quá trình tiến triển của ung thư. Những bệnh nhân đã được điều trị ung thư thích hợp và đã khỏi bệnh 1- 2 năm thì có thể là ứng viên được chọn để ghép thận.

 4)   Trước khi ghép thận cần phải đánh giá những yếu tố gì

Vì các thuốc ức chế miễn dịch mới đã được sử dụng và các kết quả của việc ghép thận đã được cải thiện nên việc chọn lựa bệnh nhân cũng được rộng rãi hơn. Các yếu tố nguy cơ của ghép thận bao gồm:

·       Tuổi: tốt nhất từ 15- 50 tuổi

·       Bệnh lý toàn thân: chẳng hạn như tiểu đường có tỷ lệ biến chứng và tỷ lệ chết sau ghép cao hơn ở người nhận thận không có tiểu đường. Các bệnh lý khác như bệnh mạch vành, loét dạ dày tá tràng cần được chữa trị khỏi trước khi ghép.

·      Các bất thường của đường tiểu dưới (bàng quang thần kinh, bướu tiền liệt tuyến) cần phải được đánh giá thật kỹ và phải được điều trị các bất thường này trước khi ghép. Các bệnh nhân đang thông tiểu sạch cách quãng vẫn có thể ghép thận được nhưng nguy cơ nhiễm trùng niệu rất cao.

5)   Khi ghép thận có cần phải cắt thận của người nhận không
 
Các chỉ định của cắt thận bao gồm:

·         Cao huyết áp không khống chế được bằng thuốc

·         Viêm thận bể thận do trào ngược

·         Sạn thận

·         Nghi ngờ có bướu thận  
6)   Thận ghép có được đặt ở cùng vị trí với thận của bệnh nhân không

  • Thận ghép thường được đặt ở hố chậu. Vị trí này cho phép dễ dàng cắm lại niệu quản vào bàng quang và dễ dàng tiến hành ghép mạch máu của cuống thận vào mạch máu chậu. Ngoài ra sau ghép dễ dàng theo dõi được tình trạng của mối nối mạch máu (nghe, sờ, chẩn đoán hình ảnh). Nếu trẻ em nhỏ nhận thận ghép lớn phải đặt thận vào ổ bụng và động mạch thận nối và động mạch chủ hoặc động mạch chậu chung và tĩnh mạch thận nối vào tĩnh mạch chủ

7)   Các nguyên nhân thất bại của ghép thận

  • Các biến chứng về kỹ thuật (huyết khối tại chỗ động mạch thận hoặc tĩnh mạch thận hoặc tắc nghẽn niệu quản) có thể làm cho ghép thận thất bại nhưng tỷ lệ chỉ < 1%. Mặc dù có một tỷ lệ nhỏ ghép thận thất bại do các biến chứng của nhiễm trùng, do bệnh tái phát nhưng đa số các trường hợp thất bại đều do thải ghép.
     
  • Thải ghép tối cấp xảy ra trong vòng 24 giờ đầu sau ghép gây ra bởi các kháng thể độc tế bào (yếu tố dịch thể). Các kháng thể này đã được hình thành từ trước do hậu quả của việc tiếp xúc với kháng nguyên qua truyền máu, qua các lần ghép thận trước đây hoặc qua sinh đẻ. Các kháng thể họat hóa hệ thống đông máu đưa đến huýêt khối các mạch máu nhỏ và nhồi máu toàn bộ thận. Quá trình khởi họat hệ thống này không thể ngăn chặn được.
  • Thải ghép tiến triển nhanh xảy ra trong vòng 4- 6 ngày sau ghép, vừa do các yếu tố dịch thể, vừa do các yếu tố tế bào. Có thể điều trị được tình trạng này với các thuốc chống thải ghép.
     
  • Thải ghép cấp: thường xảy ra 2- 4 tuần sau ghép nhưng có thể xảy ra trong 6 tháng đầu. Biểu hiện lâm sàng là giảm lượng nước tiểu, sốt nhẹ, tăng cân, cao huyết áp, tăng creatinin máu. Ðôi khi chỉ có một dấu hiệu là tăng creatinin máu. Sinh thiết thận sẽ cho thấy sự thâm nhiễm tế bào bới immunoblaste, lymphoblaste và plasmacell. Ðây là loại thải ghép đáp ứng tốt với các thuốc chống thải ghép.
  • Thải ghép mạn xảy ra muộn sau khi ghép và người ta nghĩ rằng do các yếu tố dịch thể. Nó có thể là do hậu quả của các thương tổn tiến triển và tình trạng thíêu máu mô do những lần thải ghép trước đây. Sinh thiết thận sẽ thấy các bíên đổi của mạch máu: tăng sinh nội mạc, xơ hóa mô kẽ, có những vùng nhồi máu và những vùng teo đét. Loại thải ghép này thường không đáp ứng với điều trị chống thải ghép

(Theo Tài liệu y khoa)



Copyright © 2009 - 2012   USS Corp . All rights reserved.

Chăm sóc sức khỏe | Phòng chữa bệnh | Phân loại bệnh quốc tế ICD | Bệnh tai mũi họng | Bệnh răng hàm mặt | Bệnh cơ xương khớp | Bệnh hô hấp | Bệnh tim mạch | Bệnh thận tiết niệu | Bệnh về gan | Bệnh hệ thần kinh | Bệnh ung thư | Bệnh cột sống | Bệnh đường tiêu hóa | Bệnh dạ dày | Bệnh nội tiết | Bệnh đái tháo đường | Bệnh trĩ | Bệnh mắt | Bệnh da liễu | Bệnh béo phì | Trị bệnh bằng trái cây | Lịch tiêm chủng | Chích ngừa | Sơ cứu – cấp cứu | Tủ thuốc gia đình | Sức khỏe người cao tuổi | Phụ nữ mang thai và em bé | Bà bầu | Thai nghén 9 tháng 10 ngày | Trẻ sơ sinh | Sức khỏe trẻ em | Sức khỏe phụ nữ | Sức khỏe nam giới | Sức khỏe giới tính | Chuyện phòng the | Rèn luyện sức khỏe | Làm đẹp | Sống vui khỏe | Dinh dưỡng cho trẻ em | Dinh dưỡng cho người già | Dinh dưỡng cho người cao tuổi | Dinh dưỡng | Thực đơn cho bé | Dinh dưỡng chữa bệnh | Ẩm thực | Món ngon | Món ngon quê nhà | Mẹo vặt | Tư vấn dinh dưỡng | Y học dân tộc | Từ điển y dược học | Bài thuốc dân gian | Đông y chữa bệnh | Hỏi đáp y học dân tộc | Cây thuốc vị thuốc | Danh y việt | Hỏi đáp Tư vấn sức khỏe | Tư vấn sử dụng thuốc | Sản phẩm y tế | Thuốc bổ và vitamin | Thuốc gây tê - gây mê | Thuốc Giảm đau - Hạ sốt  Chống viêm | Thuốc chống dị ứng | Thuốc Cấp cứu - Giải độc | Thuốc hướng tâm thần | Thuốc Chống nhiễm khuẩn Trị ký sinh trùng | Thuốc Điều trị đau nửa đầu | Thuốc chống ung thư | Thuốc điều trị bệnh Đái tháo đường tiết niệu | Thuốc trị Parkinson | Tác dụng cho máu | Máu - Dung dịch cao phân tử | Thuốc trị bệnh tim mạch | Thuốc điều trị bệnh da liễu | Thuốc Dùng chẩn đoán | Thuốc sát khuẩn | Thuốc lợi tiểu | Thuốc đường tiêu hóa | Hocmon - Nội tiết tố | Huyết thanh & Globulin miễn dịch | Thực phẩm chức năng | Thuốc nhỏ mắt - Tai mũi họng | Thuốc điều trị bệnh gan | Thuốc điều trị bệnh cơ xương khớp | Thuốc có tác dụng thúc đẻ | Dung dịch thẩm phân phúc mạc | Thuốc cho đường hô hấp | Thuốc Giãn cơ và tăng trưởng lực cơDung dịch điều chỉnh nước điện giải   Thuốc có nguồn gốc Thảo dược    Dầu xoa - Cao xoa   Thuốc phụ khoa   Thiết bị chăm sóc sức khỏe   Thiết bị - Dụng cụ y tế   Thiết bị - Dụng cụ thể thao   Sách, tài liệu y khoa   phòng khám Nha khoa tại Hà Nội   phòng khám Nha khoa tại TP.HCM  Phòng khám nhi tại Hà Nội    Phòng khám nhi tại TP.HCM   Phòng khám đa khoa tại Hà Nội Phòng khám đa khoa tại TP.HCM   Phòng khám da liễu tại Hà Nội   Phòng khám da liễu tại TP.HCM   Phòng khám sản phụ khoa tại Hà Nội   Phòng khám sản phụ khoa tại TP.HCM   Phòng khám tai - mũi - họng tại Hà Nội   Phòng khám tai - mũi - họng tại tại TP.HCM   Bác sĩ tư cho gia đình tại Hà Nội  Bác sĩ tư cho gia đình tại TP.HCM   Thẩm mỹ viện - chỉnh hình tại Hà Nội   Thẩm mỹ viện - chỉnh hình tại TP.HCM    Bệnh viện tại Hà Nội  Bệnh viện tại TP.HCM   Hiệu thuốc tây tại Hà Nội   Hiệu thuốc tây tại TP.HCM   Hiệu thuốc tây tại Đà Nẵng   Hiệu thuốc tây tại Cần Thơ   Hiệu thuốc tây tại TP.Vũng Tàu  Hiệu thuốc tây tại Hải Phòng  Hiệu thuốc tây tại Nha Trang   Hiệu thuốc đông y tại Hà Nội  Hiệu thuốc đông y tại Tp.HCM   Lưu ý khi uống thuốc   Sử dụng thuốc kháng sinh   Sử dụng thuốc đặc trị   Sử dụng thuốc bổ  Giới thiệu nhà sản xuất dược phẩm   Tin y học - Công nghệ   Hồ sơ y học  Triển lãm – Hội thảo y học  Tương thân tương ái  nom sua  ca com  quan he vo chong  trieu chung ung thu vu    ung thu vu   viem amidan  nam linh chi  nam linh chi co tac dung gi  stress   benh mau trang   benh ung thu mau  diep ha chau giay dep  thuoc ngu thuy dau   Cao huyết áp


Thông tin trong trang tinsuckhoe.com chỉ có tính chất tham khảo. Cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi áp dụng
Ghi rõ nguồn "tinsuckhoe.com" hoặc "Cổng thông tin chăm sóc sức khỏe và y tế cộng đồng " khi bạn phát hành lại thông tin từ trang này.
Địa chỉ: 13 Ngõ 54 Phố Kim Ngưu - Quận Hai Bà Trưng - Hà Nội
Mọi thông tin góp ý, hợp tác xin liên hệ: tinsuckhoe@gmail.com - Mobile: 0982 750 284.
Xem tốt nhất với trình duyệt Mozilla Firefox 3.0 ++