
Bệnh lý đái tháo đường là gì ?
Đái tháo đường (ĐTĐ) - thuật ngữ Y khoa là Diabetes mellitus – là nhóm bệnh lý ảnh hưởng đến cách thức sử dụng đường (glucose) trong máu của cơ thể của chúng ta. Lượng đường nầy cần cho sức khoẻ của bạn vì nó là nguồn năng lượng chính của cơ thể{josquote}Bệnh đái tháo đường diễn biến âm thầm, có vẻ không nguy hiểm nhưng có thể gây tàn phế cho người bệnh
Bình thường, glucose có thể đi vào trong tế bào nhờ hoạt động của insulin – một hormone được tiết ra bởi tuyến tụy. Insulin hoạt động như những cổng cực nhỏ cho phép glucose đi vào trong tế bào. Nhưng ở bệnh nhân đái tháo đường, quá trình nầy bị thất bại. Thay vì vận chuyển vào trong tế bào, glucose tích tụ lại trong dòng máu và cuối cùng thải ra ngoài cơ thể qua đường nước tiểu. Điều nầy xảy ra là do hoặc tuyến tụy không sản suất đủ lượng insulin cần thiết hoặc các tế bào không đáp ứng với insulin một cách thích hợp
Càng ngày càng có nhiều người Mỹ bị đái tháo đường. Bệnh lý nầy ảnh hưởng đến 16 triệu người lớn và trẻ em, có đến gần 1/3 số người nói trên không biết rằng họ đang mang đang có bệnh lý nầy. Đó là do bệnh lý nầy có diễn tiến từ từ trong nhiều năm, thường không có triệu chứng.
Đái tháo đường chủ yếu có 2 dạng – type 1 và type 2.
Type 1 của ĐTĐ tiến triển khi sản xuất rất ít hoặc không sản xuất ra insulin. Nó ảnh hưởng từ 5 – 10% tổng số người mắc bệnh. Type 1 thường được gọi là ĐTĐ phụ thuộc insulin hay ĐTĐ ở người vị thành niên. Nhưng tên gọi nầy cũng có thể bị thay đổi do type 1 cũng xảy ra ở người lớn tuổi, không chỉ có ở trẻ em và trẻ vị thành niên. Ngoài ra, những người bị ĐTĐ type khác cũng cần dùng insulin
ĐTĐ type 2 xảy ra phổ biến hơn so với type 1, ảnh hưởng đến 90 – 95% tổng số người bị ĐTĐ. Nó được gọi là ĐTĐ người lớn hay ĐTĐ không phụ thuộc insulin. Nhưng nó cũng có tên mới. Đó là do càng ngày có nhiều người trẻ tiến triển type bệnh lý nầy và cũng có một số người ĐTĐ type 2 cũng sử dụng insulin. ĐTĐ type 2 xảy ra khi tế bào tụy sản xuất ra lượng insulin không đủ hoặc cơ thể sản xuất ra chất kháng insulin
Cả 2 type của ĐTĐ đều tiến triển trầm trọng. Sự tích tụ glucose trong máu có thể gây tổn thương các cơ quan lớn trong cơ thể. Cuối cùng, ĐTĐ gây tử vong cho người bệnh. Đây là nguyên nhân gây tử vong cho 200000 người Mỹ mỗi năm.
Dấu hiệu và triệu chứng
ĐTĐ thường không có triệu chứng. Đặc biệt là ĐTĐ type 2 có tiến triển chậm. Nhiều người đã có bệnh lý nầy 8 năm trước khi được chẩn đoán. Khi bệnh tiến triển thường biểu hiện những triệu chứng khác nhau. Nhưng có 2 triệu chứng điển hình hay gặp là khát nước nhiều và tiểu nhiều.
Do lượng glucose quá cao trong máu đã kéo nước từ các mô vào máu, Tạo nên cảm giác mất nước. Để làm dịu cơn khát thì người ta có xu hướng uống nhiều nước và các loại đồ uống khác, và điều nầy dẫn đến việc bài xuất nhiều nước tiểu.
Những triệu chứng cảnh báo khác bao gồm:
Nguyên nhân
Trong tiến trình tiêu hoá, cơ thể lấy carbohydrate từ thực phẩm như bánh mì, gạo, mì sợi, rau, trái cây và sữa để tạo thành những phân tử đường khác nhau. Một trong các loại đó là glucose, nguồn năng lượng chính của cơ thể. Glucose được hấp thu trực tiếp vào dòng máu sau khi ăn, nhưng nó không thể đi vào trong tế bào mà không có sự giúp đỡ của insulin – một hormone được tiết ra bởi tuyến tụy. Tụy là cơ quan nằm ở phía sau dạ dày. Khi nồng độ glucose trong máu tăng, chúng phát tín hiệu cho tế bào beta của tuyến tụy phóng thích ra insulin. Insulin sẽ đến “mở cổng ” để glucose đi vào trong tế bào. Điều nầy giúp cho lượng glucose trong máu không tăng cao có thể gây nguy hiểm cho cơ thể.Khi nồng độ glucose trong máu xuống thấp, tuyến tụy sẽ ngưng bài tiết insulin.
Gan là nơi dự trữ glucose dư thừa dưới dạng glycogen. Khi nồng độ glycogen trong máu xuống thấp, gan sẽ chuyển glycogen dự trữ thành glucose và phóng thích nó vào trong dòng máu.
Khi chức năng của tuyến tụy bình thường, lượng glucose trong máu dao động đáp ứng với một số các yếu tố, bao gồm loại thực phẩm chúng ta ăn vào, hoạt dộng thể lực, stress và nhiễm trùng. Nhưng mối liên quan phức tạp của insulin, glucose, gan và những hormone khác đảm bảo cho lượng đường trong máu trong giới hạn cho phép.
Tuy nhiên, thỉnh thoảng điều nầy không hoàn toàn đúng. Hoặc cơ thể không sản xuất đủ lượng insulin để giúp đưa glucose vào trong tế bào hoặc bản thân các tế bào trở nên đề kháng với insulin. Trong trường hợp đó hậu quả là việc tăng nồng độ glucose trong máu. Nguyên nhân của tình trạng tăng glucose trong máu phụ thuộc vào loại đái tháo đường cụ thể. Phân loại đái tháo đường và nguyên nhân của nó bao gồm:
ĐTĐ type 1. Dạng nầy của ĐTĐ sinh ra là do tuyến tụy sản xuất ra lượng insulin không đủ. Điều nầy xảy ra do cơ chế tự miễn của cơ thể tấn công ngay chính tuyến tụy, Huỷ hoại tế bào bêta có chức năng sản xuất ra insulin. Bình thường, hệ thống miễn dịch tấn công virus, vi khuẩn và những vi sinh xâm lấn khác. Các nhà nghiên cứu không chắc rằng những nguyên nhân nào của hệ thống miễn dịch đã tấn công lên tuyến tụy, nhưng người ta tin tưởng rằng có một số yếu tố di truyền, một vài virus và chế độ ăn đả gây ra cơ chế nầy. Mặc dù ĐTĐ type 1 vẫn có thể không phát hiện được trong nhiều năm, các triệu chứng có thể xuất hiện trong vài tuần đến vài tháng – thường là sau một đợt mắc 1 bệnh lý nào đó.
ĐTĐ type 2. không giống như type 1, dạng nầy không phải3 là bệnh lý tự miễn. Có thể có 1 hoặc 2 quá trình diễn ra : hoặc tụy không sản xuất đủ lượng insulin cho phép glucose đi vào trong tế bào, hoặc là tế bào trở nên đề kháng với insulin. Người ta không biết rõ tại sao lại xảy ra điều nầy, nhưng tình trạng quá trọng và dư thừa mỡ là yếu tố quan trọng. Hầu hết những người ĐTĐ type 2 đều quá trọng.
ĐTĐ ở người trẻ (MODY). Hiếm gặp, dạng di truyền của ĐTĐ type 2 và thường gặp ở tuổi thiếu niên.
ĐTĐ thai kỳ. Loại nầy của ĐTĐ thỉnh thoảng tiến triển trong thai kỳ – thường là vào tam cá nguyệt thứ 2 và 3. Xảy ra ở khoảng 2 – 3% tổng số phụ nữ mang thai và khi hormone được sản xuất bởi nhau thai bị gián đoạn do ảnh hưởng của insulin. ĐTĐ thai kỳ biến mất ngay sau khi sinh, Nhưng có khoảng ½ trong số nầy tiến triển thành ĐTĐ type 2 vĩnh viễn sau sinh. Trong những trường hợp hiếm gặp, ĐTĐ type 1 cũng có thể xảy ra trong thai kỳ, dẫn đến nồng độ glucose trong máu cao sau khi sinh mà đòi hỏi phải điều trị bằng insulin.
Có khoảng 1 – 2% tổng các trường hợp chẩn đoán ĐTĐ do hậu quả của bệnh lý hoặc do thuốc mà nó làm cản trở hoạt động của insulin. Chúng bao gồm những thuốc kháng viêm hoặc phẫu thuật cắt bỏ tuyến tụy, rối loạn hoạt động tuyến thượng thận, suy dinh dưỡng, nhiễm trùng và thuốc corticosteroid, chẳng hạn như prednisone.
Các yếu tố nguy cơ.
Mặc dù các nhà nghiên cứu không biết một cách đầy đủ tại sao người ta mắc hoặc không mắc bệnh lý ĐTĐ, nhưng rõ ràng là có một số yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng mắc bệnh ĐTĐ. Các yếu tố nầy bao gồm:
Khi nào nên điều trị bằng thuốc
Nên đi khám ở Bác sĩ khi bạn phát hiện có một số dấu hiệu nghi ngờ bệnh lý ĐTĐ, đặc biệt là khi có khát nước nhiều và tiểu nhiều. Và nếu đã được chẩn đoán là có bệnh lý ĐTĐ, nên kiểm tra đều đặn nồng độ glucose trong máu.Nên thường xuyên khám BS hoặc các thành viên trong đội chăm sóc sức khoẻ cá nhân cho bạn để kiểm tra cách bạn thực hiện điều trị. Nếu có rắc rối trong việc điều trị giảm đường huyết hoặc thay đổi thuốc, bạn cần phải tiếp xúc với các thành viên của đội chăm sóc sức khoẻ cho bạn vào mỗi tuần. Ngay cả khi BS khuyên thay đổi thuốc hằng ngày cho, đến khi đường huyết ổn định. Nhưng khi bạn cảm thấy khoẻ và có thể giữ đường huyết ở mức ổ định và được sự đồng ý của BS thì có thể tái khám mỗi 3 tháng. Ngoài ra, nên khám bệnh tổng quát mỗi 1 năm. Trong quá trình nầy các BS sẽ tìm ra các bệnh lý đi kèm với ĐTĐ.
Bởi vì chăm sóc chân là vấn đề đặc biệt quan trọng đối với người bị ĐTĐ, BS sẽ khuyên bạn nên đến khám ở 1 chuyên gia về chăm sóc chân cho người bị ĐTĐ. Bs nầy sẽ chỉ cho bạn cách cắt móng chân để tránh nhiễm trùng. Mua những loại giày phù hợp với đôi chân, phòng ngừa những cục sẹo chai ở chân.
Hầu hết những người bị ĐTĐ cũng nên khám chuyên khoa mắt mỗi năm. Nếu tình trạng ĐTĐ khó kiểm soát hoặc có cao huyết áp, bệnh thận hoặc thai kỳ, nên kh1m ở BS mắt thường xuyên hơn.
Tầm soát và chẩn đoán
Nhiều người phát hiện được có bệnh đái tháo đường tông qua việc xét nghiệm máu vì một nguyên nhân khác hoặc tình cờ phát hiện qua khám sức khoẻ định kỳ. Nhưng trong một vài trường hợp, ĐTĐ chỉ phát hiện được khi có tổn thương cơ quan đích như mắt, thận hoặc những cơ quan khác. Đó là lý do tại sao Hội ĐTĐ Hoa Kỳ làm xét nghiệm nhanh chẩn đoán ĐTĐ ở tuổi 45. Nếu kết quả bình thường thì lặp lại test nầy vào 3 năm sau. Nếu kết quả ở mức ranh giới cao, nên lặp lại xét nghiệm nầy sau mỗi năm. Các BS cũng có thể thực hiện test nầy nếu phát hiện có triệu chứng hay có yếu tố nguy cơ. Mặc khác, các BS thường không tầm soát bệnh lý nầy trong quá trình khám thường qui.
Mặc dù lượng đường trong máu có dao động, độ rộng của giá trị nầy tương đối hẹp. Sau một đêm nghỉ ngơi, nồng độ glucose trong máu từ 70 – 110 mg/dl. Tương đương với khoảng 1 muỗng cà phê đường trong 1 gallon nước. Nếu có nồng độ glucose trong máu thường xuyên trên 126 mg/dl bạn có nhiều khả năng bị bệnh ĐTĐ.
Các xét nghiện phát hiện ĐTĐ bao gồm:
Biến chứng
ĐTĐ có thể dễ dàng bị bỏ qua, đặc biệt là ở giai đoạn sớm khi cơ thể khoẻ mạnh và không biểu hiện triệu chứng lâm sàng. Nhưng ĐTĐ có tính âm thầm, ảnh hưởng hầu hết lên mọi cơ quan chính trong cơ thể, bạn có thể làm giảm đáng kể nguy cơ của biến chứng.
ĐTĐ tạo ra những biến chứng trước mắt và lâu dài, các biến chứng sớm đòi hỏi phải được điều trị khẩn cấp. Biến chứng lâu dài tiến triển dần dần gây tàn phế và đe doạ tính mạng người bệnh.
Biến chứng sớm
(Theo Sức khỏe cộng đồng)
Copyright © 2009 - 2012 USS Corp . All rights reserved.
Thông tin trong trang tinsuckhoe.com chỉ có tính chất tham khảo. Cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi áp dụng
Ghi rõ nguồn "tinsuckhoe.com" hoặc "Cổng thông tin chăm sóc sức khỏe và y tế cộng đồng " khi bạn phát hành lại thông tin từ trang này.
Địa chỉ: 13 Ngõ 54 Phố Kim Ngưu - Quận Hai Bà Trưng - Hà Nội
Mọi thông tin góp ý, hợp tác xin liên hệ: tinsuckhoe@gmail.com - Mobile: 0982 750 284.
Xem tốt nhất với trình duyệt Mozilla Firefox 3.0 ++